Thứ hai, 15-6-26 23:03:21
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Cần tăng cường đầu tư thủy lợi phục vụ nuôi tôm

Báo Cà Mau

So với các địa phương khác, Bạc Liêu giàu tiềm năng, thế mạnh về nuôi trồng thủy sản (NTTS). Với 3 tiểu vùng sinh thái đặc thù, đã mở ra nhiều cơ hội cho Bạc Liêu phát triển mạnh mô hình nuôi tôm công nghiệp, tôm - rừng và tôm trên đất lúa.

CON TÔM LÀ “TRỤ ĐỠ”

Thực hiện chuyển đổi sản xuất từ năm 2001 đến nay, con tôm đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và Bạc Liêu đã hình thành 2 vùng sản xuất trọng điểm.

Đối với vùng sản xuất phía Bắc Quốc lộ (QL) 1A, có 2 tiểu vùng sinh thái lợ và ngọt. Trong đó, tiểu vùng chuyển đổi sản xuất (sinh thái lợ) có diện tích tự nhiên 75.600ha, với mô hình tôm - lúa là chủ lực. Riêng vùng sản xuất phía Nam QL 1A (sinh thái mặn) có diện tích tự nhiên hơn 102.000ha và được xem là “vương quốc” của con tôm công nghiệp và tôm - rừng.

Để phục vụ cho NTTS thuộc tiểu vùng sinh thái mặn và lợ, nguồn nước chủ yếu được lấy là triều biển Đông và triều biển Tây. Đối với tiểu vùng sinh thái mặn, việc cấp thoát nước thông qua lợi dụng thủy triều bằng hệ thống kênh mương hở, lấy nước vào ao đầm bằng tự chảy và bơm tát. Tuy nhiên ở vùng này, ngoài công trình đê biển Đông, kênh và cống qua đê thì chưa có công trình điều tiết hoặc kiểm soát nguồn nước mặn.

Ở vùng sinh thái lợ, hướng lấy nguồn nước mặn từ 3 phía: phía triều biển Đông qua các cống ngăn mặn Bắc QL 1A; phía từ Cà Mau qua các cống Tắc Vân, cống Cà Mau trên kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp và kênh Chắc Băng; phía triều biển Tây theo sông Cái Lớn từ hướng Kiên Giang chảy về.

Từ năm 2001, khi thực hiện chuyển đổi sản xuất, quy hoạch thủy lợi phục vụ NTTS đã được đặt ra. Thực tế đến nay đã đạt được một số kết quả quan trọng. Đó là công trình phân ranh mặn - ngọt ở vùng Bắc QL 1A đã hình thành và thay thế cho hệ thống đập thời vụ để phân 2 vùng sinh thái riêng biệt: vùng sinh thái ngọt ổn định 80.600ha và vùng chuyển đối (sinh thái lợ) 75.600ha. Hay công trình phòng chống thiên tai bảo vệ vùng NTTS, đã xây dựng tuyến đê biển với đa nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ cho vùng NTTS phía Nam QL 1A.

Trước đây, tuyến đê biển được quy hoạch với 11 cống ngăn mặn. Sau đó, để phục vụ cho NTTS, quy hoạch 11 cống này đã được thay thế bằng xây dựng 24 cống kết hợp cầu qua đê. Nhờ sự điều chỉnh này, việc cấp thoát nước cho NTTS được bảo đảm và tuyến đê đã không bị chia cắt phân vùng. Đặc biệt là phù hợp với phát triển các đối tượng chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng), góp phần xây dựng Bạc Liêu sớm trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm của cả nước và đưa ngành Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò là “trụ đỡ” quan trọng trong phát triển kinh tế chung của tỉnh. Đến nay, toàn tỉnh có 25 tổ chức, doanh nghiệp và hơn 830 hộ nông dân áp dụng mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao.

Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Công nghệ sinh học Trúc Anh (TP. Bạc Liêu) xếp vào tốp đầu về mô hình nuôi tôm bền vững. Ảnh: Hoàng Huynh

CẢNH BÁO Ô NHIỄM VÀ SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

Cùng với những tiềm năng, lợi thế vốn có, hệ thống công trình thủy lợi phục vụ NTTS hiện cũng đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức.

Đối với vùng phía Nam QL 1A, do giáp biển Đông nên độ mặn của nguồn nước vào mùa khô hàng năm thường tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất của bà con nuôi tôm. Cụ thể, độ mặn cao dẫn đến tôm nuôi chậm lớn, thời gian nuôi kéo dài làm tốn chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Parahemolycus phát triển và lây lan dịch bệnh. Cũng như, thiếu nước ngọt nuôi tôm trong mùa khô dẫn đến tình trạng người dân tự khoan giếng ngầm để pha loãng nước mặn phục vụ nuôi tôm và làm cho tình trạng mực nước ngầm xuống thấp dẫn đến sụt lún đất nền tự nhiên bình quân 1 - 2cm/năm. Từ đó, mỗi khi triều cường lên cao, diện tích ngập úng ngày một lớn hơn và lâu ngày sẽ dẫn đến sa mạc hóa cho toàn bộ khu vực nuôi tôm phía Nam QL 1A của tỉnh.

Ngoài các khó khăn về nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất, vùng này còn thường xuyên chịu tác động bất lợi từ biển như: ngập do triều cường dâng cao, xói lở bờ biển… đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất, đời sống và sinh kế của người dân trong vùng.

Bên cạnh đó, trừ hệ thống các kênh cấp cuối cùng (kênh nội đồng) có cống điều tiết nước của từng hộ dân thì toàn bộ hệ thống còn lại kênh mương đều thông với nhau và thông với nguồn cấp là biển Đông. Từ đặc điểm của hệ thống này là “vừa cấp vừa thoát” kết hợp, không hoàn chỉnh và không đồng bộ nên việc kiểm soát nguồn nước luôn gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, do gần biển nên tốc độ bồi lắng nhanh và hầu hết các kênh cấp 2, cấp 3 và cấp 3 vượt cấp sau 2 - 3 năm đều bị bồi lắng dẫn đến phải phân bổ nhiều nguồn kinh phí, mất nhiều thời gian để đầu tư nạo vét. Đáng quan tâm nhất là tình trạng môi trường nước không đảm bảo do các chất thải rắn, lỏng, các hóa chất dùng trong sản xuất và sinh hoạt đều thải trực tiếp vào môi trường nước làm nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nặng nề…

Tất cả những khó khăn trên rất cần một giải pháp về hạ tầng và tăng cường đầu tư nhiều hơn nữa cho thủy lợi phục vụ NTTS ở Bạc Liêu.

TÚ ANH

---------------------------

Một số giải pháp để Bạc Liêu bảo vệ môi trường sản xuất và hướng đến phát triển bền vững

* Đối với vùng phía Nam QL 1A

- Quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng thủy lợi để nuôi tôm siêu thâm canh mật độ cao, phạm vi từ kênh Trường Sơn hướng ra đê biển Đông. Đồng thời, đầu tư hạ tầng thủy lợi nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, phạm vi từ kênh Trường Sơn trở vào kênh Cà Mau - Bạc Liêu.

- Phân vùng các hệ thống công trình thủy lợi (kênh cấp 1, kênh cấp 2, kênh cấp 3, cấp 3 vượt cấp và nội đồng) để xây dựng hạ tầng (thủy lợi, giao thông, hệ thống lưới điện) các khu vực nuôi tôm công nghệ cao. Từ đó, xây dựng mô hình kinh tế tổ hợp tác nuôi tôm, nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình nuôi tôm và tăng năng suất về số lượng và chất cho con tôm.

- Đầu tư cải tạo hệ thống kênh các cấp: Hệ thống kênh trục, cấp 1 và cấp 2, bố trí cấp thoát kết hợp, chỉ bố trí cấp thoát riêng biệt từ cấp 3 trở xuống. Từ cấp 2 trở lên, không bố trí cống đầu kênh để giải quyết vấn đề giao thông thủy, tạo môi trường thông thoáng, tăng nhanh khả năng cấp nước, hạn chế bồi lắng. Từ kênh cấp 3 trở xuống có thể bố trí cống để cấp thoát riêng biệt và quản lý môi trường.

- Đẩy nhanh tiến độ thi công các cống dưới đê biển Đông (còn 20 cống) để thông dòng lấy nước mặn từ biển Đông chảy vào, nhằm phục vụ cho NTTS. Đồng thời, ngăn triều cường chống ngập để bảo vệ sản xuất, nhất là sản xuất NTTS vùng Nam QL 1A.

- Triển khai nhanh Dự án “Hệ thống công trình điều tiết, bổ sung nước phục vụ NTTS vùng phía Nam QL 1A, tỉnh Bạc Liêu” để cải thiện tình hình sản xuất ở vùng Nam QL 1A.

* Đối với vùng phía Bắc QL 1A

- Triển khai Dự án Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 2: Trong giai đoạn II, đề nghị Bộ NN&PTNT hỗ trợ tỉnh Bạc Liêu đầu tư 16 cống đầu các kênh trục nằm dọc theo phía Bắc trục kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp của tỉnh Bạc Liêu để tạo điều kiện phân vùng sản xuất và chủ động trong công tác điều tiết nước của tỉnh (kinh phí 350 tỷ đồng); hỗ trợ đầu tư nạo vét 8 trục kênh cấp 1 thuộc vùng dự án của tỉnh Bạc Liêu, tổng chiều dài 120,5km và kinh phí 475 tỷ đồng.

Cà Mau định hướng hình thành ngành công nghiệp nuôi biển hiện đại

Với vị trí địa lý đặc biệt, sở hữu hệ sinh thái phong phú, Cà Mau xác định phát triển nuôi biển là ngành kinh tế mới mang tính đột phá. Đây là bước đi chiến lược nhằm gia tăng giá trị, không chỉ mở hướng chuyển dịch sinh kế bền vững cho ngư dân, bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, mà còn đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh.

Nuôi biển - hướng đi chiến lược mới của kinh tế thuỷ sản

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Cà Mau đang tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, trong đó nuôi biển được xác định là một trong những hướng đi quan trọng, góp phần tái cơ cấu ngành thủy sản, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, môi trường sinh thái và chủ quyền biển, đảo.

Làng khô Gành Hào khởi sắc

Những năm gần đây, làng nghề làm khô cá tại xã Gành Hào nhộn nhịp quanh năm. Sản phẩm khô không chỉ tiêu thụ trong nước, mà còn xuất khẩu, nhờ đó cuộc sống người dân ngày càng khấm khá.

Cà Mau mong muốn mở rộng hợp tác với Vương quốc Anh trong thích ứng biến đổi khí hậu

Chiều 2/6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử tiếp và làm việc với ông Matthew Albon-Crouch, Tùy viên Nông nghiệp Đại sứ quán Vương quốc Anh tại Việt Nam, nhân chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Cà Mau.

Khẩn trương làm đất chuẩn bị cho vụ lúa hè thu

Những ngày qua, thời tiết xuất hiện mưa nhiều là điều kiện thuận lợi để nông dân trên địa bàn tỉnh đẩy nhanh tiến độ làm đất, cải tạo đồng ruộng, chuẩn bị xuống giống vụ lúa hè thu năm 2026 theo đúng khung lịch thời vụ.

Phát triển mô hình hợp tác xã xanh, nông nghiệp tuần hoàn, phát thải thấp

Đó là chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử tại Đại hội Đại biểu thành viên Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ nông nghiệp Vĩnh Cường (xã Vĩnh Mỹ) nhiệm kỳ 2026-2031, diễn ra ngày 30/5.

Tháo gỡ vướng mắc trong xử lý đất bùn vùng nuôi tôm ven biển

Xã Năm Căn có thế mạnh truyền thống là nghề nuôi tôm. Toàn xã hiện có khoảng 405 ha nuôi tôm siêu thâm canh với 173 hộ tham gia; trong đó diện tích đang thả nuôi khoảng 71 ha của 124 hộ, chủ yếu là tôm thẻ chân trắng. Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến vẫn chiếm diện tích lớn với hơn 5.211 ha của gần 1.900 hộ.

Xây dựng 1.500 ha vùng nuôi tôm sú đạt chứng nhận quốc tế

Chiều 28/5, UBND Xã Hồ Thị Kỷ ký kết ghi nhớ hợp tác với Công ty TNHH Xã hội tôm chứng nhận Minh Phú (Công ty Cổ phần Tập đoàn Thuỷ sản Minh Phú) về liên kết xây dựng vùng nuôi tôm sú đạt chứng nhận quốc tế giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn xã.

Công bố chỉ dẫn địa lý “Cà Mau” cho sản phẩm sò huyết

Chiều 26/5, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ và Trung tâm Nghiên cứu đất, phân bón và môi trường phía Nam tổ chức Lễ công bố Quyết định và trao Giấy chứng nhận chỉ dẫn địa lý “Cà Mau” cho sản phẩm sò huyết tỉnh Cà Mau, đồng thời ký kết Kế hoạch hợp tác về tăng cường thực thi quyền sở hữu trí tuệ.

Hướng đi mới ở vùng vuông tôm

Từ chỗ mỗi năm chỉ thu hoạch một vụ, phụ thuộc nhiều vào may rủi và con nước, nhiều hộ nuôi sò huyết ở xã Cái Nước nay đã có thể nâng lên 2-2,5 vụ/năm nhờ thay đổi cách nuôi. Thay vì thả trực tiếp sò giống ra vuông lớn như trước, người dân chia quá trình nuôi thành 3 giai đoạn để dễ chăm sóc, kiểm soát môi trường và giảm hao hụt. Cách làm này đang mở ra hướng nâng cao thu nhập bền vững cho người nuôi thuỷ sản địa phương.