Thứ tư, 17-6-26 16:49:11
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Gánh hát trên sông

Báo Cà Mau (CMO) Bà lão đã ngoài 80 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn, là diễn viên của một ghe hát ngày xưa, chầm chậm kể về những thăng trầm của nghiệp cầm ca một thời ở vùng sông nước. Ánh mắt xa xăm, giọng nói nhẹ nhàng cùng những dòng ký ức chầm chậm trôi, đôi lúc cũng gợn sóng, giống như dòng sông đang lững lờ trước mặt, cũng có khi cuồn cuộn hay nhấp nhô như sóng bạc đầu.

Minh hoạ: Lý Kiều Loan

"…Lúc tôi khoảng 17, 18 tuổi gì đó… bởi mê hát bội mà trốn nhà đi theo ghe hát. Chỉ biết đọc, biết viết thôi nên đâu được tập tuồng, giao vai. Công việc phục dịch cơm nước vất vả lắm nhưng bù lại tối nào cũng được coi hát, vậy là vui rồi. Vài năm sau, tôi được ông thầy tuồng cho thử vai phụ, vậy mà sau đó tôi trở thành đào chánh, có nghệ danh là Hồng Nhạn, rồi theo ghe xuôi ngược trên các con sông.

Cuộc đời tưởng cứ êm trôi, nào ngờ hát bội không còn được ưa chuộng như trước, thầy tuồng lên Sài Gòn học thêm cách viết cải lương hồ quảng, thế là đoàn hát trên ghe có thêm những vở tuồng mới. Lúc này chắc khoảng năm 1965, 1966, đoàn hát của tôi có tên là Sông Quê, rất nổi tiếng, ghe cập bến nào người dân cũng kéo đến rất đông, ngoài hiếu kỳ là xem mặt diễn viên, họ còn giúp đoàn dựng rạp, kéo hàng rào và các công việc của hậu đài mà không đòi thù lao gì cả. Tất nhiên họ được mời một suất không mất tiền.

Năm nào cũng vậy, dù có bềnh bồng khắp nơi nhưng đầu tháng Chạp đoàn phải quay về con sông cũ, nơi những chiếc ghe neo đậu dài ngày và anh em của đoàn hát coi con sông này như chốn cư ngụ của mình. Hồi đó đâu có quảng cáo như bây giờ, trước giờ diễn vài giờ thì đánh vài hồi trống chầu, tiếng trống vang rất xa, đây là tín hiệu để mọi người chú ý, nghe tiếng trống là bà con nôn nao lắm. Dân quê cả năm làm lụng vất vả, chỉ chờ dịp Tết đi coi hát cho đã! Nhà có xa bao nhiêu họ cũng đi và phải tới nơi trước khi suất hát mở màn. Hôm nào trang điểm xong, tôi vén màn nhìn ra, hàng trăm chiếc xuồng chèo đậu san sát dưới bến, trong lòng mừng lắm. Tôi còn thấy mấy chiếc cập lại, bỏ lên ghe hát buồng chuối, rổ khoai, vài trái khóm hay mớ mồng tơi hoặc xâu cá khô rồi mới lên bờ mua vé. Cũng không biết họ là ai, nhưng chúng tôi đã thọ nhận mồ hôi, công sức của cô Bảy, chị Ba, chú Sáu… ở dọc con sông này. Thật ấm áp làm sao!

Khi xem hát, tới màn gây cấn, éo le hoặc đau thương, nhìn xuống khán giả, họ cũng sụt sùi, thậm chí còn lớn tiếng lên án những nhân vật phản diện trên sân khấu. Lòng nhân hậu và yêu chuộng công bằng, lẽ phải đã gây ra những tiếng ồn, những giọng điệu bực tức khi một tên xâm lược ức hiếp người dân hoặc giở trò với phụ nữ, có khi những diễn viên đó phải hứng chiếc dép hay cái vỏ dừa từ dưới khán giả bay lên.

Nhưng vậy rồi thôi, không có chuyện thù hằn, khi vãn tuồng bà con còn nấn ná lại xem mặt “ông thiện - ông ác” ra sao. Rồi bày tỏ cảm xúc của mình, rồi khen ngợi vài câu mộc mạc chân quê.

Mọi thứ theo thời gian cũng thay đổi và thị hiếu của người xem cũng khác xưa. Khi truyền hình phổ biến rộng rãi từ trắng đen đến có màu, gánh hát chúng tôi ngày càng khó làm ăn, anh em giỏi nghề và còn trẻ thì tìm đến những đoàn có tiếng tăm để đầu quân. Những cô đào có tuổi như tôi đành chấp nhận khó khăn, ở lại và theo ghe rày đây mai đó, tiếp tục tìm theo những triền sông có dân cư đông, vừa hát để duy trì đam mê, vừa tìm kế mưu sinh… theo con nước lớn ròng.

Đến năm 1975, khi đất nước thống nhất, chúng tôi không thuộc đơn vị nào quản lý, là vì lúc đó mọi “đối tượng” đều phải thuộc về một tổ chức nào đó, vì vậy, cuộc sống anh em càng thêm khó khăn. Nói về tuồng tích thì lúc này quả là một bi kịch, bởi những kịch bản cách mạng chúng tôi đâu có mà tập tuồng, còn cái cũ thì đâu dễ lưu hành trong môi trường mới, vậy là chúng tôi rơi vào bế tắc. Một thời gian dài phải sống nhờ vào bà con 2 bên bờ sông, đây là những khán giả, cũng là ân nhân của đoàn lúc khó khăn. Nhắc đến Tết không thể nào quên sự chăm lo, thấu hiểu và trân trọng của mọi người dành cho chúng tôi, bà con thể hiện tình cảm đó chân thành theo cách của nông dân miền sông nước. Không cầu kỳ trong những túi quà xinh xắn, mà cô bác cũng cho đào kép có cái Tết rất đàng hoàng. Mấy ngày cận Tết, bà con đùm túm món ngon từ cây nhà lá vườn, đứng trên bờ rồi gọi ơi ới, có khi không phải tên của diễn viên mà kêu tên nhân vật họ thủ vai mới ngộ: "Điêu Thuyền ơi… có dưới ghe hông? Cô Bảy đem bánh tét cho bây ăn Tết nè!", hay "Võ Tòng ơi! Chú Tám gởi bây mấy chai rượu nếp than nhâm nhi đón giao thừa!". Còn nữa, nào củ kiệu, tôm khô, dưa hấu, bánh phồng… năm nào cũng tươm tất.

Rồi Đoàn hát Sông Quê cũng rã gánh, đào kép tự tìm cuộc sống cho mình. Tôi biết mình không còn cơ hội đứng trên sân khấu nữa nhưng cũng không xa rời dòng sông, nơi đã chuyên chở một quãng đời đáng nhớ của tôi, nơi tôi đã trở thành nghệ sĩ dù không qua trường lớp đào tạo nào. Ở dòng sông này, chúng tôi còn nhiều nghĩa ơn của bà con như tôi kể ở trên. Đâu chỉ giúp chúng tôi no lòng trong lúc khó khăn, mà khi ốm đau hay sinh nở, bà con đều hết sức tận tâm.

Tôi nghĩ mãi công việc sắp tới của mình khi mỗi người mỗi ngã, mình phải sống sao đây khi không thể bon chen những nơi đô hội? Cuối cùng tôi cũng tìm được công việc phù hợp với mình, đó là chèo đò! Thời đó đường bộ còn khó khăn, muốn qua sông chỉ đi bằng đò chèo (đò ngang). Ròng rã khoảng 10 năm, tôi tìm thấy niềm vui mỗi ngày, chiếc xuồng nhỏ nhấp nhô trên mặt nước theo từng mái chèo đưa rước bà con đôi bờ của con sông này.

Đoàn hát Sông Quê chỉ còn trong ký ức, nhưng kỷ niệm một thời vẫn khắc ghi mãi trong lòng, nhất là những người nhạy cảm, tưởng chỉ khóc cười khi sân khấu lên đèn, nhưng có ai biết trong thâm sâu cảm xúc, chúng tôi vẫn chảy nước mắt khi nghĩ về chữ chân tình của cô bác thuở nào và giữ mãi lòng biết ơn với con sông hiền hoà đã làm nên huyền thoại một thời ghe hát bội, cải lương hồ quảng. Con sông ấy cưu mang cả phần đời còn lại của tôi khi tôi hoà nhập với những người lao động chân tay, chất phác. Trong “vai” mới của cuộc đời, tôi buông những mái chèo nhẹ nhàng, thoăn thoắt trên mặt nước hiền hoà, thỉnh thoảng cất lên vài câu hò hay câu vọng cổ, để nhớ lại một thời rất đẹp của thanh xuân, cũng ngọt ngây, mùi mẫn lắm".

Cảm ơn cô đào Hồng Nhạn, cảm ơn người chèo đò trên dòng sông năm cũ, cảm ơn cụ bà đã nhiệt tình chia sẻ những ký ức ngày xưa để lớp trẻ sau này hiểu và trân trọng những giá trị tinh thần đã làm nên nét văn hoá vùng sông nước, gắn với lịch sử của quê hương miền đất cuối bản đồ Việt Nam yêu dấu./.

 

Lê Ngọc

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.