Thứ sáu, 3-4-26 17:00:32
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng Nam Quốc lộ 1A: Những bất cập cần được tháo gỡ

Báo Cà Mau

Bài 2: Khó khăn, bất cập do đâu?

Bài 1: Tình hình mới, quy hoạch cũ

Kênh mương bồi lắng quá nhanh, thiếu kinh phí nạo vét, bế tắc bài toán xử lý phù sa, chưa tạo ra được nguồn nước ngọt bổ sung để pha loãng nước mặn nuôi tôm khiến người dân khai thác nước ngầm quá mức cho phép… là những gì khó khăn, bất cập mà vùng Nam Quốc lộ (QL) 1A đang phải đối mặt. Có những bất cập được ngành Nông nghiệp đưa ra giải pháp tháo gỡ, nhưng cũng có những bất cập tỉnh phải chọn giải pháp “sống chung”, bởi nó là một quy luật tự nhiên không thể làm thay đổi được.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Ngọc (bìa trái) khảo sát quy hoạch một số công trình thủy lợi lớn tại Bạc Liêu.

Bất cập bắt nguồn từ thiên nhiên

Khi nói đến chuyện khó khăn, bất cập về hệ thống thủy lợi trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) vùng Nam QL1A của tỉnh, các chuyên gia trong ngành Nông nghiệp đều khẳng định rằng: cơ bản là thiếu kinh phí đầu tư, nhưng không phải cái gì có tiền cũng đều làm được. Ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT cho rằng: “Một số khó khăn về thủy lợi cho NTTS là do kinh phí đầu tư hạn hẹp. Song, có những bất cập không phải do chúng ta thiếu cái nhìn, mà do vùng Nam QL1A nằm ở vị trí địa lý đặc thù và dòng hải lưu kiến tạo”. Đó là do gần biển, hàm lượng phù sa cao, phần lớn kênh cấp II lại nằm song song với bờ biển nên tốc độ bồi lắng nhanh, cứ sau 2 - 3 năm nạo vét đã bị bồi lắng trở lại. Điều này tỉnh đã nhận thấy từ lâu nhưng chúng ta không thể ngăn cản được quy luật tự nhiên này. Và vấn đề phù sa được tỉnh xác định là bất cập lớn nhất, gây nên khó khăn rất nhiều về nguồn nước phục vụ NTTS (chủ yếu là tôm sú).

Các tỉnh ven biển có diện tích nuôi tôm và kể cả các nhà khoa học đều đang bế tắc với bài toán ngăn cản phù sa. Bởi lẽ, việc cấp thoát nước cho NTTS vùng Nam của tỉnh hiện nay đều qua hệ thống kênh hở, tiếp cận trực tiếp với ảnh hưởng của thủy triều biển Đông. Và nhiều tỉnh (trong đó có Bạc Liêu) đã chọn phương án “sống chung” với nó mà không bao giờ nghĩ tới chuyện phải lọc hay lắng phù sa này. Người ta xác định, chi phí cho việc nạo vét kênh thủy lợi giống như chi phí phân bón, thuốc trừ sâu mà người trồng lúa phải sử dụng. Việc nạo vét kênh thủy lợi là phải đưa vào hệ thống chi tiêu sản xuất.

Tuy nhiên, ngành NN&PTNT tỉnh cũng khẳng định, việc đưa phù sa vào một khu vực nào đó theo ý muốn của mình để hạn chế xâm nhập vào khu vực NTTS là giải pháp tối ưu mà tỉnh đang tính đến. Định hướng của tỉnh về lâu dài là 24 cửa sông, kênh, rạch thông ra biển nằm dọc đê biển hiện nay đều được đóng lại thông qua hệ thống cống. Việc lấy nước NTTS chỉ cho vào từ một cửa Gành Hào, từ đó phù sa sẽ lắng tụ ở một dòng kênh nào đó để việc nạo vét được dễ dàng hơn.

Một bất cập khác cho NTTS ở vùng Nam QL1A mà Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam xác định là do chưa tạo được nguồn nước ngọt bổ sung để pha loãng nước mặn nuôi tôm nên người dân đã khai thác nước ngầm quá mức cho phép. Tại khu vực này, tầng nước ngầm đã bị cạn kiệt và đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng. Vì vậy, phương án mà Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam đưa ra là Bạc Liêu cần xây dựng hai âu thuyền nằm trên kênh xáng Cà Mau - Bạc Liêu để chuyển nước ngọt từ vùng Bắc QL1A vào vùng Nam, giải quyết bài toán khủng hoảng nước ngọt.

Kênh xáng Bạc Liêu - Cà Mau dẫn nước phục vụ NTTS đã 15 năm chưa được nạo vét. Ảnh: T.Đ

Khó khăn do thiếu kinh phí

Bất cập và cốt lõi nhất về hệ thống thủy lợi vùng Nam QL1A hiện nay là xử lý phù sa. Nhưng quan trọng hơn vẫn là kinh phí đầu tư cho việc thực hiện giải pháp xây dựng công trình thủy lợi (cống, âu thuyền…). Ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh, đánh giá: “Việc xã hội hóa công tác nạo vét và xây dựng công trình thủy lợi hiện nay là vô cùng khó khăn. Người dân không muốn đóng góp kinh phí cho thủy lợi, thủy nông nội đồng. Dù biết rằng không phải quá khó và cũng không lớn, nhưng hầu hết họ đều dựa dẫm, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước”. Theo ông Ẩn, ngoại trừ những trục kênh chính, các kênh rạch còn lại nếu Nhà nước và nhân dân cùng nhau thực hiện nạo vét định kỳ thì hệ thống thủy lợi của Bạc Liêu sẽ tốt hơn hiện nay rất nhiều.

Còn ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, trong điều kiện ngân sách của tỉnh hạn hẹp như hiện nay, trung bình một năm, kinh phí tỉnh dành cho nạo vét kênh mương chỉ khoảng 50 tỷ đồng. Từ thực tế này, công tác thủy lợi của tỉnh chỉ thực hiện theo phương châm “có tiền đến đâu, thực hiện đến đó”. Riêng các công trình thủy lợi chống biến đổi khí hậu và việc nạo vét các tuyến kênh từ cấp II trở lên là hoàn toàn dựa vào ngân sách Nhà nước xin từ Trung ương.

Tuy nhiên, mỗi năm tỉnh cũng được Trung ương rót thêm khoảng 200 tỷ đồng để đầu tư cho công tác thủy lợi, nhưng không phải chỉ dành cho kênh mương mà bao gồm tất cả các công trình như: cống, kênh, mương, đê, kè, cầu thủy lợi… Chính sự dàn trải kinh phí này dẫn đến tiến độ thực hiện các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh diễn ra rất chậm và không biết bao giờ mới đáp ứng kịp nhu cầu của thực tiễn NTTS. Riêng năm 2012, do thực hiện chủ trương thắt chặt chi tiêu công nên tỉnh chưa được ghi vốn đồng nào đối với những công trình sử dụng vốn Trung ương.

Ông Lương Ngọc Lân cũng khẳng định, với hệ thống công trình từ thời Pháp để lại, kể cả kênh Cà Mau - Bạc Liêu (tuyến kênh huyết mạch quan trọng cho cả lưu thông đường thủy và cung cấp nước cho NTTS) từ khi tách tỉnh đến nay vẫn chưa một lần nạo vét. Trong khi đó, nếu đáp ứng được nhu cầu về thủy lợi phục vụ NTTS, mỗi năm, Bạc Liêu phải cần đến vài ngàn tỷ đồng…

Tấn Đạt

Kỳ tới: Giải pháp cho thủy lợi phục vụ NTTS bền vững


* Các dự án thủy lợi cho vùng Nam QL1A thuộc Chương trình chống biến đổi khí hậu đang được đề xuất đầu tư vốn

1. Dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống đê biển và đê sông Bạc Liêu (Chương trình 667): Tổng vốn đầu tư 2.500 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2012 - 2020.

2. Dự án chuyển nước ngọt từ vùng Bắc QL1A sang vùng Nam QL1A: Tổng vốn đầu tư: 2.000 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2015 - 2020.

3. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp vùng Nam QL1A (bao gồm các tiểu dự án):

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình). Quy mô 5.280ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình). Quy mô 2.700ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Long Điền Đông - Long Điền Tây (huyện Đông Hải). Quy mô khoảng 4.000ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Trạch, Hiệp Thành (TP. Bạc Liêu). Quy mô 3.020ha.

Tổng vốn đầu tư cho các tiểu dự án này 667 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2012 - 2015

* Một số dự án thủy lợi trọng điểm ở vùng Nam QL1A nằm trong quy hoạch thủy lợi ĐBSCL định hướng đến năm 2020, do Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư:

1. Kè Gành Hào: Tổng vốn đầu tư: 277 tỷ đồng. Dự án đang được triển khai thực hiện.

2. Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm Long Điền - Đông Hải: Hồ sơ thiết kế đã được Bộ NN&PTNT bàn giao cho Sở NN&PTNT tỉnh tiếp tục xem xét đầu tư.

3. Hệ thống thủy lợi phục nuôi tôm Tắc Vân - Cái Keo: Hồ sơ thiết kế đã được Bộ NN&PTNT bàn giao cho Sở NN&PTNT Bạc Liêu tiếp tục xem xét đầu tư.

4. Xây dựng 2 ô thủy lợi phục vụ NTTS Bạc Liêu:

- Ô thủy lợi Chùa Phật - Cái Cùng. Nguồn vốn ước tính: 67,04 tỷ đồng.

- Ô thủy lợi Cái Cùng - Huyện Kệ. Nguồn vốn ước tính: 24 tỷ 267 triệu đồng.

Dự án đang được triển khai thực hiện.

T.Đ (tổng hợp)

Chuyển biến tích cực từ thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng kinh tế

Sáng 2/4, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng “Đề án Sơ kết tình hình thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị khoá XIII về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" (Ban Chỉ đạo), chủ trì hội nghị trực tuyến sơ kết tình hình triển khai thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị.

Thả hơn 3 triệu con giống tái tạo nguồn lợi thuỷ sản bền vững

Nhân kỷ niệm 67 năm Ngày Truyền thống ngành Thuỷ sản (1/4/1959 - 1/4/2026), ngày 31/3, tại cửa biển Gành Hào, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau phối hợp UBND xã Gành Hào tổ chức lễ thả giống tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, qua đó phát đi thông điệp mạnh mẽ về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường.

Nông dân khẩn trương vào vụ cá bổi mới

Hiện nay, các hộ nuôi cá bổi tại vùng ngọt tiểu vùng III Bắc Cà Mau đang tất bật cải tạo ao đầm, ép giống chuẩn bị cho vụ nuôi năm 2026. Thời tiết thuận lợi, bà con kỳ vọng một mùa vụ bội thu.

Cà Mau tiên phong phát triển kinh tế xanh gắn với tăng trưởng xanh

Với hệ sinh thái rừng - biển đặc trưng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đang đứng trước cơ hội lớn để chuyển mình theo hướng phát triển xanh. Không chỉ khai thác lợi thế sẵn có, Cà Mau còn chủ động định hình chiến lược phát triển hài hoà giữa kinh tế, môi trường và xã hội, từng bước khẳng định vai trò tiên phong trong hành trình chuyển đổi này.

Thành lập Hợp tác xã Đê Tây, thúc đẩy phát triển vùng lúa - tôm

Nhằm định hướng phát triển kinh tế tập thể, đặc biệt tại các vùng sản xuất tập trung trên địa bàn, ngày 27/3, Liên minh Hợp tác xã tỉnh Cà Mau phối hợp địa phương tổ chức hội nghị thành lập Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đê Tây tại Ấp 1, Xã Hồ Thị Kỷ.

Nông dân Năm Căn được chuyển giao kỹ thuật mới trong nuôi tôm quảng canh cải tiến

Sáng 25/3, hơn 50 hộ dân trên địa bàn xã Năm Căn được tập huấn chuyển giao kỹ thuật nuôi tôm sú gia hóa theo mô hình quảng canh cải tiến 2 giai đoạn, đồng thời được hướng dẫn kỹ thuật ủ và ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản.

Xây dựng nông thôn Cà Mau "Xanh - Sạch - Hiệu quả - Bền vững"

Năm 2026 được xác định là giai đoạn bản lề để Cà Mau thực hiện những mục tiêu bứt phá. Với quyết tâm đưa giá trị sản xuất khu vực I vượt mốc 34.000 tỷ đồng, địa phương đang dồn lực đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng: “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” trên nền tảng công nghệ cao và kinh tế xanh bền vững.

Độc đáo cách thuần hoá ong mật

Không đầu tư bài bản theo kiểu công nghiệp, anh Trần Phương Vũ (Ấp 5, Xã Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau) chọn lối đi riêng: Tìm kiếm những đàn ong thiên nhiên trú ngụ trong các hốc tủ, cột điện... mang về thuần hoá. Cách làm này không chỉ bảo tồn đàn ong mật địa phương mà còn mang lại nguồn thu nhập tiền triệu từ những giọt mật tinh tuý nhất.

Cây nụ áo: Từ rau dại đến cho thu nhập tiền triệu

Tận dụng diện tích đất vườn trống, nhiều hội viên phụ nữ tại ấp Chống Mỹ A, xã Năm Căn đã mạnh dạn chuyển đổi sang trồng cây nụ áo. Mô hình này không chỉ giúp cải thiện kinh tế gia đình, mà còn mở ra hướng đi mới trong việc sản xuất nông nghiệp sạch tại địa phương.

Phát triển bền vững từ kinh tế hộ gia đình

Sau hợp nhất, xã Ninh Quới có diện tích hơn 73 km², với 7.669 hộ dân. Trong đó, khoảng 6.110 hộ sản xuất, kinh doanh, chiếm gần 80%. Những năm qua, kinh tế hộ từng bước khẳng định vai trò quan trọng, giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của địa phương.