Thứ sáu, 11-9-26 04:35:08
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng Nam Quốc lộ 1A: Những bất cập cần được tháo gỡ

Báo Cà Mau

Bài 2: Khó khăn, bất cập do đâu?

Bài 1: Tình hình mới, quy hoạch cũ

Kênh mương bồi lắng quá nhanh, thiếu kinh phí nạo vét, bế tắc bài toán xử lý phù sa, chưa tạo ra được nguồn nước ngọt bổ sung để pha loãng nước mặn nuôi tôm khiến người dân khai thác nước ngầm quá mức cho phép… là những gì khó khăn, bất cập mà vùng Nam Quốc lộ (QL) 1A đang phải đối mặt. Có những bất cập được ngành Nông nghiệp đưa ra giải pháp tháo gỡ, nhưng cũng có những bất cập tỉnh phải chọn giải pháp “sống chung”, bởi nó là một quy luật tự nhiên không thể làm thay đổi được.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Ngọc (bìa trái) khảo sát quy hoạch một số công trình thủy lợi lớn tại Bạc Liêu.

Bất cập bắt nguồn từ thiên nhiên

Khi nói đến chuyện khó khăn, bất cập về hệ thống thủy lợi trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) vùng Nam QL1A của tỉnh, các chuyên gia trong ngành Nông nghiệp đều khẳng định rằng: cơ bản là thiếu kinh phí đầu tư, nhưng không phải cái gì có tiền cũng đều làm được. Ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT cho rằng: “Một số khó khăn về thủy lợi cho NTTS là do kinh phí đầu tư hạn hẹp. Song, có những bất cập không phải do chúng ta thiếu cái nhìn, mà do vùng Nam QL1A nằm ở vị trí địa lý đặc thù và dòng hải lưu kiến tạo”. Đó là do gần biển, hàm lượng phù sa cao, phần lớn kênh cấp II lại nằm song song với bờ biển nên tốc độ bồi lắng nhanh, cứ sau 2 - 3 năm nạo vét đã bị bồi lắng trở lại. Điều này tỉnh đã nhận thấy từ lâu nhưng chúng ta không thể ngăn cản được quy luật tự nhiên này. Và vấn đề phù sa được tỉnh xác định là bất cập lớn nhất, gây nên khó khăn rất nhiều về nguồn nước phục vụ NTTS (chủ yếu là tôm sú).

Các tỉnh ven biển có diện tích nuôi tôm và kể cả các nhà khoa học đều đang bế tắc với bài toán ngăn cản phù sa. Bởi lẽ, việc cấp thoát nước cho NTTS vùng Nam của tỉnh hiện nay đều qua hệ thống kênh hở, tiếp cận trực tiếp với ảnh hưởng của thủy triều biển Đông. Và nhiều tỉnh (trong đó có Bạc Liêu) đã chọn phương án “sống chung” với nó mà không bao giờ nghĩ tới chuyện phải lọc hay lắng phù sa này. Người ta xác định, chi phí cho việc nạo vét kênh thủy lợi giống như chi phí phân bón, thuốc trừ sâu mà người trồng lúa phải sử dụng. Việc nạo vét kênh thủy lợi là phải đưa vào hệ thống chi tiêu sản xuất.

Tuy nhiên, ngành NN&PTNT tỉnh cũng khẳng định, việc đưa phù sa vào một khu vực nào đó theo ý muốn của mình để hạn chế xâm nhập vào khu vực NTTS là giải pháp tối ưu mà tỉnh đang tính đến. Định hướng của tỉnh về lâu dài là 24 cửa sông, kênh, rạch thông ra biển nằm dọc đê biển hiện nay đều được đóng lại thông qua hệ thống cống. Việc lấy nước NTTS chỉ cho vào từ một cửa Gành Hào, từ đó phù sa sẽ lắng tụ ở một dòng kênh nào đó để việc nạo vét được dễ dàng hơn.

Một bất cập khác cho NTTS ở vùng Nam QL1A mà Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam xác định là do chưa tạo được nguồn nước ngọt bổ sung để pha loãng nước mặn nuôi tôm nên người dân đã khai thác nước ngầm quá mức cho phép. Tại khu vực này, tầng nước ngầm đã bị cạn kiệt và đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng. Vì vậy, phương án mà Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam đưa ra là Bạc Liêu cần xây dựng hai âu thuyền nằm trên kênh xáng Cà Mau - Bạc Liêu để chuyển nước ngọt từ vùng Bắc QL1A vào vùng Nam, giải quyết bài toán khủng hoảng nước ngọt.

Kênh xáng Bạc Liêu - Cà Mau dẫn nước phục vụ NTTS đã 15 năm chưa được nạo vét. Ảnh: T.Đ

Khó khăn do thiếu kinh phí

Bất cập và cốt lõi nhất về hệ thống thủy lợi vùng Nam QL1A hiện nay là xử lý phù sa. Nhưng quan trọng hơn vẫn là kinh phí đầu tư cho việc thực hiện giải pháp xây dựng công trình thủy lợi (cống, âu thuyền…). Ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh, đánh giá: “Việc xã hội hóa công tác nạo vét và xây dựng công trình thủy lợi hiện nay là vô cùng khó khăn. Người dân không muốn đóng góp kinh phí cho thủy lợi, thủy nông nội đồng. Dù biết rằng không phải quá khó và cũng không lớn, nhưng hầu hết họ đều dựa dẫm, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước”. Theo ông Ẩn, ngoại trừ những trục kênh chính, các kênh rạch còn lại nếu Nhà nước và nhân dân cùng nhau thực hiện nạo vét định kỳ thì hệ thống thủy lợi của Bạc Liêu sẽ tốt hơn hiện nay rất nhiều.

Còn ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, trong điều kiện ngân sách của tỉnh hạn hẹp như hiện nay, trung bình một năm, kinh phí tỉnh dành cho nạo vét kênh mương chỉ khoảng 50 tỷ đồng. Từ thực tế này, công tác thủy lợi của tỉnh chỉ thực hiện theo phương châm “có tiền đến đâu, thực hiện đến đó”. Riêng các công trình thủy lợi chống biến đổi khí hậu và việc nạo vét các tuyến kênh từ cấp II trở lên là hoàn toàn dựa vào ngân sách Nhà nước xin từ Trung ương.

Tuy nhiên, mỗi năm tỉnh cũng được Trung ương rót thêm khoảng 200 tỷ đồng để đầu tư cho công tác thủy lợi, nhưng không phải chỉ dành cho kênh mương mà bao gồm tất cả các công trình như: cống, kênh, mương, đê, kè, cầu thủy lợi… Chính sự dàn trải kinh phí này dẫn đến tiến độ thực hiện các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh diễn ra rất chậm và không biết bao giờ mới đáp ứng kịp nhu cầu của thực tiễn NTTS. Riêng năm 2012, do thực hiện chủ trương thắt chặt chi tiêu công nên tỉnh chưa được ghi vốn đồng nào đối với những công trình sử dụng vốn Trung ương.

Ông Lương Ngọc Lân cũng khẳng định, với hệ thống công trình từ thời Pháp để lại, kể cả kênh Cà Mau - Bạc Liêu (tuyến kênh huyết mạch quan trọng cho cả lưu thông đường thủy và cung cấp nước cho NTTS) từ khi tách tỉnh đến nay vẫn chưa một lần nạo vét. Trong khi đó, nếu đáp ứng được nhu cầu về thủy lợi phục vụ NTTS, mỗi năm, Bạc Liêu phải cần đến vài ngàn tỷ đồng…

Tấn Đạt

Kỳ tới: Giải pháp cho thủy lợi phục vụ NTTS bền vững


* Các dự án thủy lợi cho vùng Nam QL1A thuộc Chương trình chống biến đổi khí hậu đang được đề xuất đầu tư vốn

1. Dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống đê biển và đê sông Bạc Liêu (Chương trình 667): Tổng vốn đầu tư 2.500 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2012 - 2020.

2. Dự án chuyển nước ngọt từ vùng Bắc QL1A sang vùng Nam QL1A: Tổng vốn đầu tư: 2.000 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2015 - 2020.

3. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp vùng Nam QL1A (bao gồm các tiểu dự án):

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình). Quy mô 5.280ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình). Quy mô 2.700ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Long Điền Đông - Long Điền Tây (huyện Đông Hải). Quy mô khoảng 4.000ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Trạch, Hiệp Thành (TP. Bạc Liêu). Quy mô 3.020ha.

Tổng vốn đầu tư cho các tiểu dự án này 667 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2012 - 2015

* Một số dự án thủy lợi trọng điểm ở vùng Nam QL1A nằm trong quy hoạch thủy lợi ĐBSCL định hướng đến năm 2020, do Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư:

1. Kè Gành Hào: Tổng vốn đầu tư: 277 tỷ đồng. Dự án đang được triển khai thực hiện.

2. Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm Long Điền - Đông Hải: Hồ sơ thiết kế đã được Bộ NN&PTNT bàn giao cho Sở NN&PTNT tỉnh tiếp tục xem xét đầu tư.

3. Hệ thống thủy lợi phục nuôi tôm Tắc Vân - Cái Keo: Hồ sơ thiết kế đã được Bộ NN&PTNT bàn giao cho Sở NN&PTNT Bạc Liêu tiếp tục xem xét đầu tư.

4. Xây dựng 2 ô thủy lợi phục vụ NTTS Bạc Liêu:

- Ô thủy lợi Chùa Phật - Cái Cùng. Nguồn vốn ước tính: 67,04 tỷ đồng.

- Ô thủy lợi Cái Cùng - Huyện Kệ. Nguồn vốn ước tính: 24 tỷ 267 triệu đồng.

Dự án đang được triển khai thực hiện.

T.Đ (tổng hợp)

Biến vật liệu nạo vét thành nguồn lực tài nguyên

Cà Mau là địa phương có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc, với khoảng 14.000 km, cùng hơn 310 km bờ biển, nhiều cửa sông, cửa biển và hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất, giao thông thuỷ, phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn bùn cát từ thượng nguồn và diễn biến bồi - xói ngày càng phức tạp, nhiều tuyến kênh, cửa sông, cửa biển nhanh chóng bị bồi lắng, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước, giao thông thuỷ, sản xuất và đời sống người dân.

Làng nghề khô Cái Đôi Vàm thiếu lao động thời vụ

Mở rộng sản xuất để đáp ứng đơn đặt hàng tăng, song nhiều cơ sở chế biến khô tại xã Cái Đôi Vàm đối mặt tình trạng khó tìm nhân công dù mức tiền công đưa ra tương đối khá. Điều này đang đặt ra bài toán về giữ chân nguồn lao động tại chỗ.

Năm Căn khẩn trương cải tạo ao đầm, chủ động cho vụ nuôi mới

Bước vào thời điểm cải tạo ao đầm theo khung thời gian quy định, nhiều hộ nuôi tôm trên địa bàn xã Năm Căn đang khẩn trương sên vét, xử lý môi trường, chuẩn bị cho vụ nuôi mới. Cùng với nâng cao hiệu quả sản xuất, người dân ngày càng chú trọng bao ví, quản lý bùn đất sau cải tạo, góp phần bảo vệ môi trường và nguồn nước phục vụ sản xuất.

Nấm mối đen - Mô hình mới từ ứng dụng công nghệ

Từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, người dân xã Vĩnh Lộc đang từng bước chuyển sang những mô hình ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao giá trị trên cùng diện tích. Trong đó, mô hình trồng nấm mối đen trong nhà kín của ông Nguyễn Quốc Thái, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vĩnh Lộc, đang cho thấy hiệu quả bước đầu và mở ra một hướng sản xuất mới.

“Lộc trời” tép chấu cho thu nhập tiền triệu

Con tép chấu sinh sôi trong tự nhiên, theo con nước vào vuông tôm. Tại xã Vĩnh Lộc, nguồn lợi từ sản vật “lộc trời” này mang lại khoản thu nhập tiền triệu cho người dân.

Gieo sinh kế nhỏ, gặt thành quả lớn

Từ diện tích đất trống, mặt nước và nguồn lực sẵn có, người dân xã Khánh Hưng đang từng bước tạo dựng những mô hình sinh kế phù hợp, mở ra hướng phát triển kinh tế thiết thực và tạo động lực giảm nghèo bền vững ở cơ sở.

Ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa gạo

Cà Mau có hơn 185.000 ha canh tác lúa mỗi năm, sản lượng bình quân trên 1,8 triệu tấn/năm. Toàn tỉnh có hơn 22 cơ sở xay xát, chế biến lúa gạo, với tổng công suất khoảng 714 ngàn tấn/năm.

Sò huyết – “của để dành” trong vuông tôm

Với điều kiện tự nhiên phù hợp, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Năm Căn đang phát triển mô hình nuôi sò huyết kết hợp trong vuông tôm quảng canh cải tiến. Không đòi hỏi quá nhiều chi phí đầu tư, lại có thể mang về nguồn thu đáng kể sau nhiều tháng nuôi, sò huyết đang dần trở thành một trong những đối tượng thủy sản được người dân quan tâm, góp phần nâng cao giá trị trên cùng diện tích sản xuất.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia

Sáng 27/8, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị chuyên đề triển khai thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) và phong trào thi đua năm 2026. Hội nghị được kết nối trực tuyến đến các địa phương trong tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử chủ trì hội nghị.

Nông dân Ninh Thạnh Lợi tham gia sản xuất 30 ha lúa chất lượng cao và phát thải thấp

Ngày 26/8, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau phối hợp UBND xã Ninh Thạnh Lợi tổ chức hội nghị triển khai mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh cho hơn 30 hộ dân tại ấp Cai Giảng.