Thứ năm, 11-6-26 05:42:26
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Lướt sóng trên sông

Báo Cà Mau (CMO) Vỏ lãi, một loại thuyền có hình dáng lạ mắt, tốc độ di chuyển nhanh, chỉ thấy phổ biến trên vùng sông nước Tây Nam Bộ, đặc biệt có nhiều ở các tỉnh Nam sông Hậu. Không chỉ du khách nước ngoài mà rất nhiều bà con các tỉnh miền Bắc và miền Trung cũng rất thích thú khi lần đầu được ngồi trên những chiếc vỏ lãi lướt trên sông nước và cả trên mặt bãi phù sa.

Chưa tìm được con số thống kê toàn vùng, nhưng chỉ riêng tỉnh Cà Mau, chiều dài các con sông tự nhiên đã hơn 8.000 km. Ở đây, sông rạch là yếu tố đầu tiên hình thành nên làng xóm. Mọi ngôi nhà đều hướng ra phía sông. Từ nửa đầu thế kỷ 20 về trước, sự di chuyển của con người trên vùng đất này, chủ yếu dựa vào đường thuỷ.

Vỏ lãi lướt sóng trên sông.                       Ảnh: LÊ VŨ HOÀNG

Sinh sống ở đây, gia đình nào cũng phải có ít nhất một phương tiện đi lại trên sông nước. Chiếc xuồng, chiếc ghe là cầu nối quan trọng nhất của từng nhà với xã hội bên ngoài. Thế giới xuồng ghe nơi này vì thế cũng hết sức đa dạng, có hàng chục loại khác nhau, từ chiếc xuồng ba lá nhỏ bé chỉ chở được một, hai người, tới chiếc ghe chài có sức chở đến năm, bảy chục tấn hàng hoá.

Từ đầu thập niên 50 của thế kỷ 20 trở về trước, khi chiếc máy thuỷ động cơ du nhập vào nước ta còn hạn chế, việc đi lại trên vùng sông nước này chủ yếu bằng sức chèo chống của con người. Để tăng nhanh tốc độ và giảm thiểu sức người, cư dân ở đây luôn biết tận dụng hiệu quả sức đẩy của gió và dòng chảy của thuỷ triều. 

Do đặc điểm sông nước nên nghề đóng ghe xuồng rất phổ biến trong vùng. Ở mọi địa điểm dân cư, nơi nào cũng có những trại xuồng, trại ghe. Nghề đóng xuồng ghe là nghề truyền đời của nhiều gia đình. Có những địa phương nổi danh trên toàn vùng vì nghề đóng ghe xuồng như làng ghe Phụng Hiệp của tỉnh Hậu Giang chẳng hạn.

Ông Tiêu Văn Sum lái vỏ trên sông Cái Lớn, Kiên Giang.

Ngày trước, toàn bộ ghe xuồng đều được chế tác từ gỗ. Sao và dênh dênh là 2 loại gỗ thường được dùng để đóng xuồng ghe, vì chúng có độ bền tốt trong môi trường nước. Tuy nhiên, những loại gỗ này không sẵn có mà phải du nhập từ miền Đông Nam Bộ hay từ Campuchia xuôi bè theo dòng Mê Kông.

Chiếc vỏ lãi ra đời vào những năm 1960. Ban đầu nó có tên là chiếc tắc ráng, vì được chế ra tại kinh Tắc Ráng, gần chợ Rạch Giá ngày nay. Chính ông Tiêu Văn Sum là một trong những người đã tham gia chế tác ra loại phương tiện giao thông độc đáo này. Sự ra đời của chiếc vỏ lãi chịu tác động trực tiếp từ cuộc du nhập khá ồ ạt của các loại máy thuỷ động cơ vào miền Nam thời đó.

Khi máy thuỷ động cơ thay thế cho dầm chèo, việc đi lại trở nên nhanh chóng, người ta lại nhận thấy xuồng ghe kiểu cũ trở nên kềnh càng, cản nước, khiến các máy đuôi tôm khó phát huy hết tốc độ. Thế là chiếc vỏ lãi ra đời. So sánh kỹ ta thấy chiếc vỏ lãi ngày nay dài hơn và bề ngang có hẹp hơn, cỡ một mười, một bảy so với chiếc tắc ráng nguyên thuỷ. Tuy nhiên, để đẩy cho tốc độ của chiếc vỏ chạy nhanh đến gần 50 km/giờ như ngày nay, những người thợ như anh Lâm Thanh Sơn đã có rất nhiều sáng kiến cải tiến để “nâng cấp” cho chiếc máy đuôi tôm ngoại nhập.

Trong lúc gỗ rừng ngày một khan hiếm, sự du nhập của công nghệ chế tạo xuồng ghe bằng vật liệu composite vào nước ta vài chục năm gần đây đã góp phần rất đáng kể tạo bước đột phá trong phát triển phương tiện giao thông thuỷ. Nhẹ hơn và bền hơn gỗ, chất liệu composite cũng làm cho tốc độ của chiếc vỏ lãi trở nên nhanh hơn đáng kể.

Nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, do không mở cửa với thế giới bên ngoài, nguồn nhập khẩu máy thuỷ động cơ không còn, cộng với tình trạng khan hiếm xăng dầu nên giao thông đường thuỷ có thời kỳ quay trở lại với các phương tiện thô sơ. Chỉ sau khi có chính sách mở cửa, nguồn máy ngoại nhập với nhiều mẫu mã đa dạng, tiện dụng, giá cả phải chăng, được thoải mái nhập khẩu vào nước ta, bán tràn ngập trên thị trường cùng với sự xuất hiện của chiếc vỏ composite, đã làm cho phương thức đi lại trên sông nước bằng dầm, chèo gần như chấm dứt hẳn. Trên miền sông nước này, không chỉ nam giới mà cả phụ nữ và trẻ em cũng thành thục điều khiển xuồng ghe đi lại bằng máy đuôi tôm.

Giờ đây, những người làm nghề khai thác sò huyết hay cào nghêu, mò chem chép không còn phải trầm mình trong nước mặn hay dang lưng phơi nắng, đội mưa bì bõm trên bãi lầy tìm bắt từng con mà đã có sự hỗ trợ rất tiện ích của chiếc vỏ lãi; như cách cào nghêu, sò của bà con Đất Mũi, Gò Công, Rạch Chèo (Cà Mau).

Bây giờ thật khó xác định ai là tác giả của những sáng kiến cải tiến cho chiếc máy đuôi tôm ngoại nhập tăng thêm nhiều tính năng ưu trội, thích nghi trong các điều kiện di chuyển khác nhau do yêu cầu hoạt động của con người và thực tế sông nước. Bởi những người thợ sửa máy bình thường khắp vùng như anh Trương Cam Bốt ở xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi đều có tham gia ít nhiều.

Để động cơ máy đạt yêu cầu di chuyển tốt nhất cho hoạt động khác nhau của từng chiếc vỏ lãi, đã có rất nhiều cải tiến đáng ghi nhận như đôn dênh, truyền nhong tăng lực, kéo dài hay rút ngắn láp máy; đặc biệt là việc gò giũa, thay đổi hình thù của từng chiếc chong chóng quạt nước, còn gọi là chân vịt, để tạo ra lực đẩy như ý muốn.

Kết quả ngoạn mục từ kỹ thuật gọt giũa, gò uốn những chiếc chân vịt của máy đuôi tôm là hình ảnh lướt đi như bay của những chiếc vỏ lãi trên bề mặt những bãi bùn cạn nước. Hình ảnh này giờ đây không còn xa lạ với cư dân trên khắp các vùng bãi bồi rộng lớn ven biển của ĐBSCL. Bởi vì ở mỗi làng xóm, mỗi dòng kênh, mỗi con rạch đều có những con người sáng tạo như anh thợ Trương Cam Bốt. Họ làm việc không có công thức chung chỉ dẫn mà chỉ dựa trên sự mẫn cảm của bản năng phản ứng sinh tồn.

Vỏ lãi dùng để cào chem chép trên bãi biển Gò Công, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân.

Nói đến các khía cạnh trong việc sáng tạo ra chiếc vỏ lãi của dân miền Tây, cũng cần phải kể đến câu chuyện sau đây. Vào khoảng cuối những năm 1980, một nông dân là anh Hai Nha, ở ấp Rạch Nhum, xã Khánh An, huyện U Minh, đã có một sáng kiến táo bạo: đưa chiếc máy xe hơi xuống làm động cơ để chạy vỏ lãi. Sau khi chiếc máy xe hơi được đưa xuống sông làm động cơ thuỷ, tốc độ di chuyển trên sông nước của người miền Tây bất ngờ tăng vọt lên gấp hai, ba lần. Và, chiếc vỏ lãi từ chỗ chỉ được xem như một phương tiện giao thông cá nhân, người ta nhân lớn nó lên thêm vài lần và gắn những chiếc máy xe có công suất lớn, thành ra một thứ tàu đò để chuyên chở hành khách, hàng hoá.

Ngày nay, sự hiện diện của chiếc vỏ lãi trong đời sống sông nước miền Tây đã trở thành một nét văn hoá độc đáo mang tính chất đặc thù của vùng đất.

Cùng với các cuộc đua ghe Ngo mang đậm dấu ấn văn hoá cộng cư đa sắc tộc của miền sông nước, giờ đây những cuộc đua vỏ lãi cũng góp thêm ngày hội tưng bừng ở nhiều tỉnh, nhất là các tỉnh Nam sông Hậu. Quán quân trong các cuộc đua đã trở thành những ông “vua tốc độ” nổi danh như cặp bài trùng Lâm Hoàng Sơn và Võ Hậu Chính ở ấp Bá Huê, xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi. Hai anh nông dân chánh hiệu này đã rinh hàng chục giải thưởng cao nhất của các cuộc đua vỏ lãi cấp huyện, cấp tỉnh và cả khu vực đồng bằng trong gần chục năm qua.

Và, với du khách lần đầu đến đất miền Tây được chứng kiến cảnh một đám cưới với cả đoàn vỏ lãi đi đón dâu trên sông, hay hình ảnh những chiếc vỏ lãi len lỏi như con thoi trong các phiên chợ nổi cũng sẽ là những ấn tượng khó phai trong ký ức./.

Vũ Trọng Đắc

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.