Thứ bảy, 8-8-26 14:20:49
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM SỰ KIỆN TẬP KẾT RA BẮC (1954-2024)

Ngày ấy chúng tôi đi

Báo Cà Mau Chiến tranh kết thúc sau 21 năm, tôi kịp về sống giữa lòng mẹ như những ngày thơ bé, kịp quấn trên đầu chiếc khăn tang khi mẹ qua đời. Tôi cũng kịp nhận ra niềm hạnh phúc của đứa con được sống bên cạnh mẹ.

Ngày ấy ra đi tôi vừa tròn 13 tuổi. Tôi không quên ánh trăng rằm phủ xuống cây cao nơi bến sông nhà. Ðứng dưới đó là mẹ tôi, người nín lặng tiễn chân con. Cả ba tôi cũng lặng im khi đẩy chiếc xuồng con tách bến. Nhưng trên đường đưa tôi lên huyện, điểm tập trung đầu tiên, ba đã căn dặn tôi thật nhiều điều. Háo hức là vậy nhưng tôi đã khóc. Tôi khóc mà không dám bật thành tiếng, vì ba nói, nếu con không muốn đi thì ta trở lại.

Mà tôi thì có khát vọng từ lâu được đi ra Bắc, được gặp Bác Hồ...

Những học sinh chúng tôi thời đó ra đi theo chủ trương của Ðảng, Bác Hồ, Nhà nước nhằm tạo lực lượng để xây dựng miền Nam sau ngày giải phóng. Là con em của cán bộ, chiến sĩ ưu tú, chúng tôi được Bác Hồ, Ðảng, Nhân dân miền Bắc gọi là những “hạt giống đỏ” của miền Nam.

Thiếu nhi Tây Nam Bộ những ngày đầu tập kết tại Thanh Hoá. Ảnh tư liệu

Thiếu nhi Tây Nam Bộ những ngày đầu tập kết tại Thanh Hoá. Ảnh tư liệu

Ðã có lớp lớp học sinh miền Nam chúng tôi trở về quê hương chiến đấu, bị tù đày và đã nằm xuống rải rác đây đó trên các chiến trường B. Kể cả những người thầy dạy chúng tôi cũng lần lượt lên đường. Có thầy đã hy sinh ngay trên mảnh đất Cà Mau này, như thầy Hiền. Có thầy sau giải phóng làm quản lý nhà trường, như thầy Nguyễn Công Thiêm, nguyên Hiệu trưởng Trường THPT Hồ Thị Kỷ.

Ngày ấy chúng tôi đi háo hức niềm vui và cháy lòng nỗi nhớ. Ba tôi nói là 2 năm nhưng tính từ ngày ký Hiệp định Giơnevơ thì chỉ còn 18 tháng. 18 tháng không phải là dài nếu nó không trở thành 21 năm. 21 năm cháy lòng đất nước bởi chiến tranh, cháy lòng con người bởi kẻ Nam người Bắc. Nhiều rất nhiều gia đình miền Bắc có con em vào Nam chiến đấu cũng khắc khoải đợi chờ. Bởi cuộc chiến tranh này đâu của riêng ai, mà là của tất cả những người Việt Nam yêu nước, của cả dân tộc Việt Nam.

Ai có ở trong tình cảnh này mới thấu hiểu tình quê hương, nỗi nhớ gia đình của lũ trẻ chúng tôi. 21 năm, chúng tôi đã từng gắn trên áo mình miếng vải tang đen cho vụ thảm sát Phú Lợi, vụ B52 rải thảm ở huyện Trần Văn Thời; các vụ thảm sát dã man ở Hướng Ðiền, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Sơn Mỹ... Và lần lượt lần lượt cha bạn này, chú bạn kia bị luật 10/59 tàn sát.

Ngày ấy chúng tôi đi chỉ là một lũ nhỏ tứ xứ gom về. Kênh xáng Chắc Băng là điểm tập trung khá lâu. Ở đó, chúng tôi được tổ chức trong các nhóm tổ đoàn, xen lẫn nam nữ, lớn bé, thành thị, nông thôn, miễn là ở độ tuổi học sinh. Ở Chắc Băng chúng tôi được hướng dẫn cách sống tập thể. Từ sáng dậy tập thể dục, vệ sinh nơi ở, cách ăn tập trung, dùng đũa hai đầu. Rồi tập đi đều, sinh hoạt, vui chơi tập thể... Chẳng còn thời gian để chúng tôi nhớ nhà. Chuyến tàu chúng tôi đi là tiết trời tháng Chạp, ngoài Bắc đã lạnh cắt da. Chúng tôi được chuẩn bị trước tinh thần, còn đồ ấm ra Sầm Sơn mới lãnh.

Ở Chắc Băng, đoàn chúng tôi lần lượt đông lên vì các nơi còn tiếp tục đưa con em mình đến. Sau những ngày ở Chắc Băng, đoàn chuyển xuống Rạch Lùm. Nghĩa là từng chặng chúng tôi nhích dần về cửa Sông Ðốc. Những ngày ở Chắc Băng thật vui. Lúc ở Rạch Lùm vì nhà rời rạc không còn sinh hoạt, chỉ có đợi chờ nên thật buồn. Nỗi nhớ nhà trào lên khiến nhiều hôm tôi cứ muốn tìm đường về. May mà chưa đầy tuần lễ chúng tôi được lệnh chuyển ra Sông Ðốc, xuống tàu.

Ðó là một buổi sáng trời buồn, có vài hạt mưa theo kiểu mưa bụi cuối đông. Bến Sông Ðốc lúc đó người đông nghịt. Ðông nhất là bộ đội, cán bộ các cơ quan và gia đình họ, sau là những đoàn học sinh của các tỉnh miền Tây Nam Bộ chúng tôi.

Phía người tiễn cũng đông không kém. Nổi bật là các cô chú trong ban tổ chức tiễn đưa. Kế nữa là người địa phương Sông Ðốc được huy động giúp đỡ, hỗ trợ công tác tiễn đưa và thân nhân những người tập kết.

Tôi nhớ hoài hình ảnh các mẹ, các chị cầm những chiếc khăn rằn lau nước mắt, rồi quàng vội cho người thân. Họ ôm hôn nhau, họ nắm níu nhau thật chặt, nửa khóc nửa cười trong giờ chia tay. Ðể rồi sau đó những chiếc tàu há mồm, những chiếc ghe buồm tách khỏi bến đưa các đoàn người ra tàu lớn.

Còn lại là hai ngón tay, hai ngón tay biểu tượng hai năm của kẻ ở người đi hẹn ngày hội ngộ. Hai ngón tay cứ thế vẫy hoài trong nỗi nhớ.

Bến Sông Ðốc thật vui vì băng cờ, biểu ngữ rợp trời nơi trụ sở, nhà dân, bến sông và trên các con tàu, chiếc ghe buồm đưa tiễn. Kể cả những giọt nước mắt cũng lấp lánh niềm vui và vinh hạnh.

Ngoài xa kia, một chiếc tàu lớn của Liên Xô đang đợi. Cán bộ, bộ đội ra đến nơi lần lượt leo lên chiếc thang dây dài thả từ boong tàu xuống sát mặt nước. Còn lũ nhỏ chúng tôi thì được người lớn ẵm chuyển từ người này qua người khác để đưa lên tàu.

Học sinh được xếp ở tầng 1, nơi ít bị dạ sóng nhất. Còn các gia đình ở tầng 2. Các chú bộ đội nằm tuốt dưới hầm tàu.

Chiếc tàu lớn có bếp nấu, phòng ăn, phòng vui chơi giải trí, phòng tập thể dục, nơi đánh bóng bàn, bóng rổ, cầu lông. Chiều buồn, lên boong tàu đi lòng vòng xem biển.

Bình thường tàu chạy từ Sông Ðốc ra Cửa Lò hoặc Sầm Sơn chỉ khoảng 3 ngày đêm. Chuyến tàu của chúng tôi phải đương đầu với bão, 9 ngày đêm, ngày 9/1/1955 dương lịch mới cập được vào Sầm Sơn (Thanh Hoá).

Hôm tàu cập bến Sầm Sơn, ban tổ chức và bà con tại chỗ ra đón đông nghịt. Chúng tôi được ẵm xuống thuyền nan và đưa vào bờ về các lán trại (với những sạp dài, rộng, lót kỹ những lớp rơm dày cho đỡ lạnh).

Có câu chuyện vui, do bất đồng ngôn ngữ, là chúng tôi mừng thầm khi được hứa về lán trại nghỉ ngơi rồi cho uống nước chè. Chúng tôi tưởng được uống chè sau chuyến đi mệt, nào ngờ chè là trà, chát đắng.

Tiết trời lạnh, học sinh chúng tôi chui vào những chiếc áo bông, đội mũ ấm vào, không còn biết ai là ai nữa, nếu không gọi tên nhau.

Nghỉ dưỡng sức, ăn uống bồi dưỡng ở Sầm Sơn một tuần, chúng tôi được đưa về Nông Cống (Thanh Hoá) ở trong các nhà dân. Lúc bấy giờ chúng tôi đã được phân ra theo lớn nhỏ, cấp học để vào các trường mang số hiệu cụ thể. Như Trường Học sinh miền Nam số 1, số 2, số 3... đến số 27, 28. Và chúng tôi buộc phải tu dưỡng, buộc phải học lần lượt hết các cấp phổ thông, vào các trường đại học trong hoặc ngoài nước.

Học cho thành tài, chúng tôi chỉ lo bao nhiêu đó. Còn cái ăn, cái mặc, sách vở cho học hành, tất cả có Bác Hồ, Ðảng và Nhân dân miền Bắc lo hết cho chúng tôi...

Giờ đây những học sinh miền Nam ngày xưa về quê hương cống hiến, vẫn sống gắn bó với nhau, giúp đỡ nhau trong cái tuổi xế chiều. Hết cống hiến cho đời, họ làm điểm tựa, bệ phóng cho con cháu mình. Họ mong sao những người thân sống có ích, trung thực và nỗ lực cho đời như họ đã từng sống./.


Ðàm Thị Ngọc Thơ

 

Ký ức “địa chỉ đỏ”

Từng công tác ở Văn phòng Tỉnh uỷ thời kháng chiến những năm 1960, tôi vinh dự được làm nhân chứng tháp tùng cùng Giám đốc Bảo tàng tỉnh Lê Minh Sơn và một số cán bộ về lại Rẫy Mới - kênh Tư Mầu, phía sau sông Mỹ Bình để tìm nhà ông Lê Phương Hồng, nguyên cán bộ tôn giáo vận tỉnh trong thời chống Mỹ. Ðây là chuyến khảo sát địa chỉ đỏ cuối cùng ở xã Phong Lạc và Phong Ðiền (cũ).

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.

Sức sống mới trên Đôn Bơ - Cựa Gà

Vùng quê cách mạng Đôn Bơ - Cựa Gà (ấp Thạnh Hưng 2, xã Vĩnh Mỹ) hôm nay đổi thay, khởi sắc từng ngày. Những dấu tích chiến tranh được gìn giữ, giáo dục truyến thống; những chính sách đền ơn đáp nghĩa được triển khai thiết thực, góp phần để vùng đất từng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh vươn lên trong nhịp sống mới.

Nối dài mạch nguồn tri ân

Tháng Bảy về, khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau lại rộn ràng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Mỗi món quà trao đi, mỗi lời thăm hỏi chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối mạch nguồn tri ân sâu sắc công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Xây tượng nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ: Bông sen lửa sáng mãi trên đất Cà Mau

Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Hồ Thị Kỷ (1949-1970) sinh ra tại ấp Cây Khô, xã Tân Lợi (nay là Xã Hồ Thị Kỷ). Hoạt động trong Ðội Biệt động thị xã Cà Mau, chị nổi tiếng với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh quả cảm ở tuổi 21, trở thành biểu tượng rực rỡ cho tinh thần cách mạng quật khởi của tuổi trẻ đất mũi.

Cha, con cùng ra trận

Kết thúc cuộc trường chinh 30 năm đánh giặc, ở mảnh đất có hình tượng như mũi con tàu, việc hai cha con cùng ra trận có lẽ không nhiều. Chính uỷ Trung đoàn 1, Quân khu 9, Vưu Hoà Thạnh (Tư Bằng) và con trai Vưu Minh Chiến là điển hình trong cuộc chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước đã để lại cho gia đình, đồng đội sự tiếc thương vô hạn.

Cà Mau truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Huân chương Kháng chiến

Chiều 24/7, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và truy tặng Huân chương Kháng chiến cho các liệt sĩ có nhiều cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026).

Viết tiếp trang sử quê hương từ hành trình tuổi trẻ

Những ngày Tháng 7, tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ và gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau luôn rộn ràng màu áo xanh tình nguyện. Với tuổi trẻ hôm nay, hoạt động tri ân không chỉ dừng ở những buổi dâng hương, dọn vệ sinh hay tặng quà, mà còn được cụ thể hoá bằng nhiều việc làm thiết thực như tổ chức "Bữa cơm tri ân", chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ... Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương.

Người còn lại

Ðứng trước công trình Bia tội ác Mỹ - nguỵ ở Bàu Hang - Tân Tiến, người cựu chiến binh lão thành tuổi 83 Nguyễn Văn Tòng (sinh năm 1943, quê ấp Tân Ðức A, xã Tân Ðức, huyện Ðầm Dơi cũ; nay là xã Tân Thuận) không thể nào quên ký ức cách đây 67 năm - ngày giặc gieo rắc tội ác kinh hoàng ngay tại nơi này.

Gửi tuổi xanh cho quê hương

Có những mùa xuân của tuổi trẻ không được ghi dấu bằng mối tình đầu thơ mộng hay những ước mơ trong trẻo, dự định về tương lai rộng mở, mà bằng tiếng súng, cuộc hành quân xuyên đêm, những lần đối mặt với ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng câu chuyện về những nữ pháo binh và nữ biệt động của Cà Mau vẫn luôn là biểu tượng đẹp về một thế hệ đã gửi trọn tuổi thanh xuân cho quê hương, đất nước.