Thứ năm, 18-6-26 09:14:02
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nghề gác kèo ong

Báo Cà Mau (CMO) Cùng với nghề muối ba khía của vùng nước mặn, nghề gác kèo ong của người dân U Minh vừa được Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch công nhận là văn hoá phi vật thể. Hoà với niềm vui chung ấy, người dân càng thêm gắn bó với nghề hơn, bởi đây không chỉ là nghề truyền thống mà còn là nguồn sống đã và đang nuôi sống nhiều thế hệ người dân gắn bó với đồng đất U Minh này.

Anh Trương Hữu Nghĩa, ngụ ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, hơn 40 tuổi đời nhưng anh có thâm niên gần 30 năm làm nghề gác kèo ong tại vùng giáp ranh lâm phần rừng U Minh Hạ này. Có hơn 5 ha đất rừng, gia đình 3 thế hệ của anh Nghĩa chủ yếu sống bằng nghề gác kèo ong. Anh được xem là người có thâm niên, cũng như số lượng kèo gác nhiều nhất khu vực vùng đệm này, với hơn 100 kèo. Anh Nghĩa có nhiều bí quyết riêng để thu hút ong mật về với kèo gác của mình và việc lựa chọn vật liệu làm kèo cũng không ngoại lệ, không phải loại cây nào làm kèo cũng thu hút ong về nhiều được. Qua nhiều năm làm nghề đúc kết được, người thợ có thâm niên này cho rằng chỉ có thân cây bình bát làm kèo là “tịch" nhất. Thân bình bát được chọn phải là loại thân thẳng, to hơn bắp tay để có thể chịu được sức nặng của tổ ong mật. Sau khi đốn bình bát về phải được phơi ráo, cũng như phải trải qua công đoạn tô sáp, khi đó kèo mới được đem đi gác. 

Nghề gác kèo ong không khó, nhưng người gác phải thực sự am hiểu về hướng đi của ong, mùa ong về, nhất là chuyện chọn vị trí gác kèo phải hợp lý, thu hút được bầy ong. 

Anh Trương Hữu Nghĩa chuẩn bị công đoạn tô sáp lên kèo.

Theo anh Nghĩa: “Chọn vị trí rất quan trọng, quyết định khả năng thành bại của tổ ong mình gác. Thường người gác phải chọn vị trí là những trảng sậy, để có ánh sáng mặt trời sáng và chiếu xuống thân kèo, trảng phải được dọn sơ qua, đừng nên dọn trống quá, thân sậy không được chặt mà chỉ bẻ để thu hút bầy ong. Hướng kèo chênh lên theo hình mái nhà, 1 đầu vừa huốt tầm với tay, đầu kia thấp ngang ngực là vừa. Sau khi gác xong, người thợ phải canh ong về và phải dọn kèo, chăm sóc kèo thường xuyên. Vào đầu mùa hạn ong về nhiều, lượng mật cũng chất lượng hơn mùa mưa”. Thông thường gác kèo ong tự nhiên thu hoạch mật quanh năm, có thể từ 3-4 lần trong mùa hạn, 2-3 lần trong mùa mưa. Tuỳ theo kèo gác mà số lượng mật sẽ thu được nhiều hay ít, trung bình mỗi tổ có thể thu về từ 3-5 lít mật, có tổ đạt đến hơn 10 lít.

Theo Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch Trần Hiếu Hùng: “Nghề gác kèo ong được công nhận là văn hoá phi vật thể, nó khẳng định giá trị đặc trưng của vùng sông nước Cà Mau. Qua đó, trao truyền những kinh nghiệm quý báu trong thực hành, trình diễn, khai thác và bảo tồn nếp sinh hoạt văn hoá truyền thống của người dân vùng sông nước. Nó đã tạo nên thương hiệu, sản phẩm du lịch độc đáo mỗi khi đến với vùng ngập ngọt Cà Mau”.

Tuy nhiên, cùng với niềm vui của người dân Cà Mau nói chung, nhất là đối với người dân đang trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ rừng U Minh, việc gìn giữ, quản lý, khai thác nghề gác kèo vẫn đang là nỗi lo. Nó là câu chuyện làm thế nào để sống hài hoà với môi trường, hưởng lợi từ thiên nhiên một cách bền vững, không làm huỷ hoại thiên nhiên, không bị đe doạ do sự phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp thâm canh. Đây bài toán nan giải để nghề gác kèo ong tiếp tục phát huy giá trị truyền thống, tạo hướng đi thực sự bền vững cho người dân đang bám trụ dưới tán rừng U Minh Hạ./.

Lê Chí

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.