Thứ sáu, 10-7-26 22:04:32
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Báo Cà Mau Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Sau khi bài đăng, gia đình kể thêm về khoảnh khắc ông hy sinh và hành trình gian truân tìm kiếm thi thể cùng xác máy bay rơi. Câu chuyện ấy cứ canh cánh lòng, thôi thúc tôi tìm hiểu thêm, để bổ sung những mảnh ghép còn thiếu về cuộc đời người anh hùng của quê hương.

Ông Nguyễn Anh Sơn (anh ruột Anh hùng Nguyễn Văn Bảy (B), ngụ tại Khu Dân cư phường Tân Xuyên) cẩn thận mang ra quyển album khá dày, bên trong lồng rất nhiều hình ảnh, tư liệu. Ông khẽ khàng nói: “Ðây là quyển sổ tang, toàn bộ thông tin về Bảy (B) nằm trong này”.

Hy sinh anh dũng và cuộc tìm kiếm thi thể giữa lòng núi thẳm

Sau trận đánh gây thiệt hại tàu khu trục Mỹ, ngày 6/5/1972, biên đội MiG-17 gồm phi công Nguyễn Văn Lục và Nguyễn Văn Bảy (B) lại cất cánh đánh chặn tốp 24 máy bay cường kích của Mỹ trên bầu trời Thanh Hoá, ngăn chúng thực hiện các đợt oanh kích miền Bắc.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B). (Ảnh chụp lại từ quyển sổ tang)

Phi công Nguyễn Văn Lục kể lại: “Sau khi Bảy (B) bắn hạ 1 chiếc A6, tôi bắn rơi 1 chiếc đang tìm lối thoát. Khi được lệnh giữ nguyên độ cao, nhìn lên trên, Bảy (B) phát hiện 1 chiếc đang đè tôi, Bảy (B) cơ động vọt lên và đè lại thằng này. Không ngờ lại 1 thằng nữa đè Bảy (B). Hai chúng tôi quần nhau với mấy mươi chiếc máy bay của địch và thế là máy bay của Bảy (B) bị trúng đạn...”.

Ông Lò Quốc Tôn (nguyên dân quân xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá) vẫn vẹn nguyên ký ức ngày ấy. Ông kể, sau khi máy bay rơi, đơn vị không quân phối hợp Binh đoàn 559 và chính quyền địa phương thành lập đội tìm kiếm khẩn cấp, có ông tham gia.

Ông nghe nói, trong khoảnh khắc cuối cùng, phi công Nguyễn Văn Bảy (B) đã cố điều khiển chiếc máy bay đang bốc cháy ngoặt sang hướng khác, từ vùng trời huyện Bá Thước lao xuống ngọn núi Pu Ví, xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, tránh xa bản làng đồng bào dân tộc và kho hàng của Bộ Quốc phòng. Chi tiết này dù không thấy tài liệu ghi lại, nhưng dựa trên bản tính kiên cường, dũng cảm, trách nhiệm mà bạn bè, đồng đội kể lại về Nguyễn Văn Bảy (B), tôi tin là có thật. Ðó là lựa chọn cuối cùng đầy nhân văn và cao cả của người phi công.

Pu Ví là ngọn núi cao, hiểm trở nằm dọc dãy Trường Sơn. Phải mất gần một tuần càn rừng tìm kiếm, lực lượng làm nhiệm vụ mới tiếp cận được hiện trường. Trước mắt họ, đầu chiếc máy bay cắm sâu vào sườn núi, chỉ còn lộ phần đuôi. Cây rừng cháy loang lổ, khói vẫn còn âm ỉ, hơi nóng toả ra hầm hập. Thêm 2 ngày liên tục tưới nước làm nguội, việc đào bới mới được tiến hành.

Ðất đá bị sức nóng nung cứng, lực lượng hì hục vừa đào vừa tưới nước, rất vất vả. Khi nắp ca-bin lộ ra, thì phát hiện đầu máy bay lệch sang một hướng. Khẩn trương lau chùi lớp đất bám trên kính, họ vỡ oà nhận ra phi công Nguyễn Văn Bảy (B) vẫn còn ngồi nguyên trên ghế lái. Nhưng điều hết sức bất ngờ, khi tấm kính ca-bin vừa được phá vỡ, không khí tràn vào, hình hài ấy từ từ sụp xuống, hoá thành tro. Tất cả đều chết lặng.

Những gì thu được chỉ là một phần xương sọ, vài đoạn xương ống, ít xương vụn và một vốc tro. Lễ an táng được tổ chức trang trọng. Mộ ông nằm tại Nghĩa trang Lê Lai, dưới chân một ngọn núi của huyện Thường Xuân. Sau này hài cốt được di dời về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Quảng Xương (Thanh Hoá), trước khi được đưa về an nghỉ tại quê nhà Cà Mau.

Quyển sổ tang và nghĩa tình người thân, đồng đội

Ðầu tháng 7/1972, sau gần 2 tháng em trai hy sinh, ông Nguyễn Năm (anh thứ Năm, công tác ở Ban Dầu khí, thuộc Tổng cục Hoá chất) mới hay tin. Ông xin nghỉ phép, lặn lội vào Thanh Hoá tìm thăm mộ em.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B) (bên phải) chụp ảnh cùng đồng đội tại Trường Không quân Kusov ở Ắc-ta-ri, Liên Xô năm 1965-1968.  (Ảnh chụp lại từ quyển sổ tang)

Chuyến đi kéo dài 64 ngày đêm. Ông phải băng rừng, vượt đèo núi, chịu đói khát, thậm chí còn bị nghi là gián điệp và bị quản thúc vì những cảnh giác khắt khe trong thời chiến. Cuối cùng, ông cũng chạm được vào mộ em, thắp nén nhang đầu tiên trong nỗi đau tột độ.

Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình trở về miền Nam, để lại phần mộ Nguyễn Văn Bảy (B) nơi đất khách trong nỗi niềm day dứt. Bằng nhiều nỗ lực của gia đình và đặc biệt là sự hỗ trợ của Quân chủng Phòng không - Không quân và những đồng đội cũ, đến năm 2002, hài cốt của Anh hùng Nguyễn Văn Bảy (B) được đưa về an nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Cà Mau, khép lại hành trình 30 năm nằm nơi đất khách và 48 năm xa rời quê hương xứ sở.

Nhẹ nhàng lật từng trang sổ tang, ông Sơn diễn giải, trang này là tuổi thơ, trang kia là trận đánh, rồi những bức thư bạn bè thời đi học, những tấm ảnh, những lời kể từ đồng đội...

Ông xúc động chia sẻ: “Tất cả là nhờ công ông Nguyễn Năm”. Sau ngày đưa hài cốt em trai về lại quê nhà, ông Năm đã cất công tìm gặp những người từng sống, chiến đấu cùng Nguyễn Văn Bảy (B); trở lại các đơn vị không quân; lặn lội lên tận vùng núi Thanh Hoá gặp những người từng tham gia tìm kiếm chiếc máy bay năm ấy; tìm người nhiều năm hương khói bên phần mộ liệt sĩ... Mỗi cuộc gặp là một mảnh ghép, bổ sung vào cuộc đời người em mà ông và các thành viên gia đình chưa có điều kiện gần và hiểu hết.

Khi mộ phần được an táng tại quê nhà, Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau (cũ) (phóng viên Minh Chính, Hoàng Sấy) đã tìm đến gia đình nhờ hỗ trợ thực hiện phim tài liệu về Nguyễn Văn Bảy (B). Chính ông Năm là cầu nối với Câu lạc bộ Không quân phía Nam và các đồng đội cũ của em trai. Những lời phát biểu, những buổi toạ đàm, ông Năm đều ghi âm và được chép lại, gửi từng người đọc, chỉnh sửa, xác nhận. Nhờ sự cẩn trọng ấy, nhiều trận đánh, nhiều câu chuyện về Nguyễn Văn Bảy (B) được tái hiện đầy đủ hơn, trở thành những tư liệu quý mà ngay cả gia đình trước đó cũng chưa từng biết.

Kết nối điện thoại với ông Nguyễn Năm (87 tuổi, hiện ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh), ông rất xúc động về câu chuyện này. "Nếu không có sự giúp đỡ của Quân chủng Phòng không - Không quân, của những đồng đội cũ thì gia đình rất khó có thông tin đầy đủ về Bảy (B), cũng như đưa được em về Cà Mau. Nghĩa tình ấy, gia đình tôi suốt đời ghi nhớ", ông bày tỏ.

Quyển sổ vì thế còn lưu giữ nhiều lá thư cảm ơn chân thành gửi đến tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ gia đình. Xen giữa các trang là những bức ảnh ghi lại hành trình cải táng, lễ truy điệu, đưa hài cốt Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy (B) về quê nhà, lời cảm tưởng và phút tiễn biệt đầy xúc động của đồng đội.

Có một bức ảnh, ông Sơn dừng lại khá lâu. Ðó là hình Ðại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Bảy (A) đứng đọc điếu văn tiễn biệt người đồng đội cùng tên, cùng họ về yên nghỉ trong lòng đất mẹ. Khoảnh khắc ấy thật đẹp, thật xúc động về nghĩa thuỷ chung của tình đồng đội.

Ðiều đặc biệt, quyển sổ không chỉ lưu tư liệu, mà còn có 1.240 câu thơ do chính ông Nguyễn Năm sáng tác kể về cuộc đời em mình. Ðó không phải những vần thơ cầu kỳ, mà là tiếng lòng của một người anh viết bằng ký ức và nước mắt. Theo tôi, đây là một truyện thơ hoàn chỉnh, có thể in thành sách làm tài liệu tuyên truyền trong thanh niên, cũng như phục vụ các giờ ngoại khoá về lịch sử địa phương, để thế hệ trẻ có thêm hiểu biết và tự hào về truyền thống quê nhà.

Ðó là lời thốt lên quặn thắt khi chứng kiến phần hài cốt ít ỏi của em trong lần bốc mộ:

"Hình hài cha mẹ cho ta

 Qua cơn binh lửa đã ra thế này..."

Là nỗi xót xa của tình máu mủ:

"Thương em biết mấy cho vừa

 Thân hình tráng kiện ngày xưa đâu rồi..."

Giữa những mất mát ấy vẫn lấp lánh niềm tự hào:

"Tuổi xuân dâng trọn non sông

Ngày mai Tổ quốc hoá rồng bay cao..."

Và những câu thơ nghẹn lòng về người mẹ:

"Năm bảy hai mùa thu dậy sóng

 Ðón con về tờ giấy trên tay

 Lá vàng còn ở trên cây

 Khóc chồng khi trẻ, thu này khóc con..."

Ðây không chỉ là nỗi đau riêng một gia đình, mà còn là nỗi đau của biết bao bà mẹ Việt Nam đã tiễn chồng, tiễn con ra trận, rồi lặng lẽ sống hết phần đời còn lại trong thấp thỏm đợi chờ, thương nhớ...

Khép lại hơn 230 trang quyển sổ tang, ông Sơn bồi hồi trong im lặng. Với người tiếp cận, đây không chỉ là tư liệu quý, mà còn là biểu tượng đẹp, thiêng liêng của tình đồng đội, tình máu mủ ruột rà.

Lịch sử không chỉ nằm ở những trang sách, mà còn trong cách chúng ta nâng niu ký ức về người đã khuất. Gìn giữ và kể lại câu chuyện của Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B), cũng là cách để tri ân, để những giá trị cao đẹp ấy tiếp tục được trao truyền, để ngọn lửa anh hùng mãi luôn soi sángu

Trang Thăm

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.