Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thăng trầm nghề đan đát

Báo Cà Mau (CMO) “Tre xanh xanh tự bao giờ chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”(*) Những luỹ tre, khóm trúc xanh tươi, chiếc lá mỏng manh đu đưa trong gió, tiếng lá xạc xào buổi trưa hè từ lâu đã trở thành hình ảnh đẹp tô thắm nhịp sống thôn quê. Người Việt Nam đâu chỉ cần cù, lam lũ mà còn rất sáng tạo. Với những nguyên liệu đơn sơ của tre, trúc, người con của vùng đất chín rồng có thể linh hoạt sử dụng vào nhiều việc khác nhau: Cất nhà, cắm câu, làm lờ, làm lọp và đặc biệt là đan đát ra nhiều vật dụng phục vụ cuộc sống sinh hoạt thường nhật như đũa, rổ, thúng, sịa, nia... Làm để tự phục vụ cho cuộc sống gia đình và cũng có người xem đó là nghề để mưu sinh. Thế là, nghề đan đát được hình thành từ khi nào chẳng ai nhớ rõ.

Trải qua bao bể dâu, những luỹ tre làng không còn dày đặc như xưa, nhưng thật mừng là đâu đó, nơi những miền quê vùng ngọt hoá vẫn còn giữ được nét đơn sơ, bình dị. Những luỹ tre, khóm trúc vẫn còn được giữ gìn và nghề đan đát vẫn được lưu giữ cho đến hôm nay như bảo vệ nét văn hoá truyền thống quê hương.

Tết này đã gần chạm ngưỡng thất thập cổ lai hy, mái đầu đã bạc trắng, hàng ngày, vợ chồng bà Đào Hữu Duyên (Ấp 4, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời) vẫn thong thả, cần mẫn ngồi đan từng cái rổ, cái thúng. Nhẩm tính, bà Duyên đã gắn bó với nghề đan đát 50 năm tròn, nhớ lại chính bà còn giật mình vì gia đình có 3 thế hệ làm nghề này. Bà nối nghiệp từ mẹ mình và truyền nghề lại cho các con nhiều năm nay.

Những luỹ tre, khóm trúc vẫn được người dân nông thôn giữ gìn và nghề đan đát được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Ảnh: Nhật Minh

Nhờ nghề đan đát, cuộc sống gia đình chị Mai Thị Xuyên (Ấp 4, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời) ngày càng vươn lên.


Bà Duyên kể trong niềm tự hào: “Những bụi tre, bụi trúc được vợ chồng tôi gìn giữ từ thuở tôi mới theo ổng về đây sinh sống. Có bụi lên tới 38 tuổi đời rồi đó. Tôi với ổng có 5 đứa con gái. Đứa nào cũng biết đan đát, nhưng giờ chỉ có đứa thứ hai và đứa út là làm nghề suốt”.

“Nghề đan đát gắn bó như thế nào với dì?”, tôi hỏi. Nở nụ cười đôn hậu, bà Duyên bảo: “Cũng không biết nói sao, chỉ biết là từ xưa giờ chưa bao giờ thiếu vắng nó”. Đó, giản đơn là sự quen thuộc, gắn bó như nhịp thở trong cuộc sống.

Bà kể, quê bà ở xã Nguyễn Phích, huyện U Minh. Sống cảnh loạn lạc, đất đai rừng rậm, chẳng có lấy một công đất ruộng. Các anh, chị lớn thì đi theo tiếng gọi của Tổ quốc làm cách mạng, trong 6 đứa con còn lại ở nhà chỉ có bà là lớn nhất. Vậy là, mười mấy tuổi đầu, cô bé Duyên đã tập tành đan đát cùng mẹ. Chắc có lẽ thừa hưởng đức tính khéo léo, sáng dạ của phụ nữ Cà Mau nên tuy còn nhỏ nhưng hễ nhìn qua một lần là sản phẩm nào bà Duyên cũng nhanh chóng làm được. Cứ thế, bà đan được nhiều sản phẩm rồi cách mấy ngày, cùng mẹ ra chợ Cà Mau bán mấy trăm lá trầu, mấy chục cái rổ, cái nia đổi từng lon gạo, nuôi các em khôn lớn.

Thành gia lập thất, bà Duyên theo chồng về Ấp 4, xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời và đem theo nghề này cho đến giờ. Bà còn truyền lại nghề cho người bạn đời của mình. Lúc nào vào vụ mùa thì chăm sóc mấy công ruộng, rảnh rỗi thì đan đát. Cuộc sống cứ thế bình dị, êm ả trôi. Giàu thì không giàu nhanh chóng, nhưng nhờ có nghề đan đát mà dù trong những lúc khó khăn, làm lúa đôi khi không đủ gạo ăn qua mùa giáp hạt, vợ chồng bà cũng chưa từng chịu cảnh làm thuê đây đó. Các con lớn lên trong sự chăm sóc đủ đầy, trong “ngũ long công chúa” có 2 đứa con gái học tới đại học, có việc làm ổn định, 3 đứa còn lại cũng học xong lớp 9.

Đứa con nào chịu học, vợ chồng bà Duyên lo học hành đến nơi đến chốn, còn đứa con nào năng lực học chữ có giới hạn thì bà khuyên nhủ gắng biết nghề đan đát. Bà bảo con: “Nghề này tuy đòi hỏi nhiều công sức nhưng nó phù hợp với phụ nữ quê mình. Chỉ cần chịu học là làm được, ít vốn và điều quan trọng là dù cuộc sống có bao đổi thay thì sản phẩm thủ công làm từ tre, trúc vẫn được người tiêu dùng lựa chọn, vẫn có được chỗ đứng nhất định mà không sản phẩm nào thay thế được”.

Chị Mai Thị Xuyên, cô con gái thứ 2 của bà Duyên là người giỏi nghề nhất trong các chị em. Cũng như mẹ mình, chị Xuyên biết nghề từ lúc mười mấy tuổi đầu và gắn bó với những cọng nan, vành cho đến khi đã có 2 đứa con gần tới tuổi trưởng thành. Bao nhiêu năm gắn bó với nghề đan đát, trải qua nhiều thăng trầm, theo chị Xuyên, người tiêu dùng, đặc biệt là bà con vùng nông thôn, vùng thị trấn vẫn ưa thích sử dụng rổ, thúng làm từ tre, trúc. Cái thời làm nghề đan đát của chị có khác chăng là không còn phải chào hàng, ngồi chợ bán lẻ từng cái thúng, cái nia như hồi mẹ của chị.

Qua bao năm làm nghề, tuy không có cái gọi là thương hiệu nhưng sản phẩm gia đình chị làm ra được bà con, mối lái tin tưởng nhận hàng và sử dụng. Vậy là, cứ có đơn hàng là chị Xuyên lại tất bật làm, làm quanh năm. Nhộn nhịp nhất là những tháng giáp tết. Nào là mối lái từ trước giờ hối thúc làm hàng nhanh, nào là khách lẻ từ các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Phú Tân đặt sịa, nia để phơi tôm khô, cá khô trước tết. Việc làm nghề tất bật là thế, chị Xuyên còn đảm đang cả việc nhà, việc nước, làm tốt nhiệm vụ cộng tác viên y tế, chi hội trưởng chi hội nông dân ấp, tổ trưởng tổ phụ nữ.

Chị Xuyên tâm tình: “Ở nông thôn nhờ có nghề đan đát truyền thống của gia đình mà cuộc sống không rơi vào túng quẫn. Giàu thì không giàu bằng ai nhưng chắc và bền bỉ. Như đi làm công nhân, nghe nói một tháng thu nhập trên chục triệu đồng nhưng đâu phải lúc nào cũng vậy, lại xa con cái. Còn nghề đan đát này, một tháng vài triệu đồng nhưng có hoài, rảnh lúc nào làm lúc đó, thuận tiện chăm sóc gia đình, dạy bảo con”.

Không giàu có, nhưng nhờ bền bỉ với nghề mà vợ chồng chị Xuyên từ không cục đất chọi chim, tích luỹ dần mà giờ đã có trong tay gần chục công ruộng. Và quan trọng hơn là 2 đứa con, 1 gái, 1 trai đều được cắp sách đến trường và đạt thành tích cao trong học tập, tương lai rộng mở.

Tỷ phú do thời, triệu phú do cần. Cứ âm thầm lao động bền bỉ, tích góp, từ nghề đan đát đơn sơ, nhiều thế hệ đã lớn lên, nhiều gia đình có cuộc sống tươm tất. Nghề đan đát không mai một dù trải qua bao thăng trầm nhưng những người làm nghề như bà Duyên, chị Xuyên vẫn canh cánh nỗi lo: “Liệu thế hệ sau này có chọn nghề, giữ nghề truyền thống? Khi cuộc sống phát triển, con đường tương lai nhiều lựa chọn, không học hành tri thức thì đi làm ăn xa xứ, rồi mai đây, nghề đan đát có còn được gìn giữ như bây giờ..."./.

(*) Trích "Tre Việt Nam" của Nhà thơ Nguyễn Duy.

Ngọc Minh

Ra mắt Bảo tàng Lúa nước Cà Mau và phương án biểu tượng “ba hạt lúa”     

Bảo tàng Lúa nước đặt tại Số 5, đường Nguyễn Tất Thành, phường Bạc Liêu, tỉnh Cà Mau (trụ sở UBND tỉnh Bạc Liêu cũ), định hướng phát triển theo mô hình “bảo tàng ký ức gắn với trải nghiệm thực tế”.

50 năm Ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất (25/4/1976-25/4/2026): Mốc son trong lịch sử nước nhà

Cách đây 50 năm, ngày 25/4/1976, hơn 23 triệu cử tri của nước Việt Nam thống nhất đã nô nức đi bầu cử, bầu ra những đại biểu xứng đáng nhất vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập, thống nhất.

Khởi công Hải đội dân quân thường trực tại Sông Đốc

Dự án do Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau làm chủ đầu tư, thuộc nhóm B, được triển khai tại Ấp 6A, xã Sông Đốc với tổng mức đầu tư gần 484 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh, trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Thời gian thực hiện từ năm 2026 đến 2028.

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Tri ân gia đình chính sách, người có công

Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026), đoàn công tác Tỉnh uỷ - HĐND - UBND - Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau do đồng chí Phạm Văn Thiều, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, làm trưởng đoàn đến thăm, tặng quà các gia đình chính sách, người có công và nhân chứng lịch sử trên địa bàn.

Hơn 5,3 tỷ đồng thực hiện công trình dân vận khéo tại địa bàn khó khăn

Ngày 24/4, Đảng uỷ xã Phong Thạnh tổ chức Lễ ra quân thực hiện các công trình, phần việc “Năm dân vận khéo” 2026 gắn với thực hiện “Ngày Dân vận khéo”, tập trung tại các ấp 10, 10A và 7 - những địa bàn còn nhiều khó khăn của xã.

Thẩm tra 8 dự thảo nghị quyết trình Kỳ họp HĐND tỉnh khoá XI

Ngày 23/4, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh chủ trì, phối hợp với các Ban của HĐND tỉnh tổ chức hội nghị thẩm tra các văn bản trình Kỳ họp HĐND tỉnh khoá XI.

Về nguồn tháng Tư - Dấu ấn tri ân, lan toả bản sắc

Hoà trong không khí kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 23/4, Hội Liên hiệp Phụ nữ các phường Hiệp Thành, Vĩnh Trạch và Bạc Liêu tổ chức hành trình về nguồn với chủ đề “Tri ân tháng Tư - Rạng ngời bản sắc”, thu hút hơn 90 cán bộ, hội viên phụ nữ tiêu biểu tham gia.

Tạo đột phá trong xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững

Đây là mục tiêu trọng tâm được đặt ra tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) năm 2025 do UBND tỉnh Cà Mau tổ chức vào sáng 23/4.

Phát huy đoàn kết, đổi mới công tác đối ngoại nhân dân

Chiều 22/4, Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị tỉnh Cà Mau tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội bầu Ban Chấp hành gồm 24 thành viên, Ban Thường trực 7 thành viên. Ông Nguyễn Văn Hoà được tín nhiệm tái giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị tỉnh.