Thứ năm, 18-6-26 19:11:44
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thêm mùa muối "đắng"

Báo Cà Mau (CMO) Năm nay thời tiết thất thường, mưa dầm đến sau Tết Nguyên đán nên diêm dân Tân Thuận chưa thu hoạch được gì. Điệp khúc được mùa rớt giá, được giá thì… không có muối bán, mỗi năm diêm dân đều nếm trải.

Làng muối Tân Thuận nằm ven cửa biển Gành Hào, thuộc ấp Lưu Hoa Thanh, xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Làng muối này hình thành cách đây hơn 35 năm, diêm dân bắt đầu vụ muối từ tháng 11 đến tháng 4 âm lịch hằng năm.
Ngậm ngùi nghề muối
Chỉ tay ra ruộng muối hơn 3 ha, không giấu được vẻ mặt lo âu, Phó trưởng ấp Lưu Hoa Thanh Trần Văn Ngộ thở dài: “Mấy năm trước, giữa tháng Giêng là có 200-300 giạ muối bán rồi, vậy mà năm nay đến giờ vẫn chưa thấy hột muối nào. Trời thì lúc nắng lúc mưa. Tết vừa rồi, chỉ 2 đợt mưa thôi làm tụi tôi mất trắng vụ muối. Trời mưa dầm nên phải xả hết nước ra, cải tạo, bơm nước vô ruộng để phơi lại từ đầu. Chưa năm nào thất muối như năm nay".
Hơn 20 năm qua, ông Ngộ gắn với nghề làm muối, mà nói đúng hơn là cái nghiệp. Ông đã nếm trải biết bao cay đắng, ngọt bùi cùng hạt muối. Khi thì mất mùa được giá, khi thì được giá mất mùa. Chẳng hạn như năm 2016, diêm dân trúng mùa, nhưng giá muối lại rớt thê thảm, chỉ có 14.000-20.000 đồng/giạ, còn năm nay thì thất muối. Đây vốn là điệp khúc không chỉ diêm dân mà mọi nông dân đều đã thuộc nằm lòng.
Ông Ngộ tâm sự: “Vất vả, giá thấp, mất mùa nông dân không nản, chỉ sợ là mình cô độc, tự xoay sở một mình. Không biết đến bao giờ hạt muối của diêm dân chúng tôi làm ra mới được quý như hạt gạo”.
Không chỉ ông Ngộ, mà 74 hộ làm nghề muối ở xã Tân Thuận đều rơi vào cảnh lao đao sau hai đợt mưa lớn sau Tết vừa qua. Hơn 180 ha muối của diêm dân phải tháo nước, cào, phơi đất, lấy nước vào ruộng làm lại từ đầu.
Trưởng ấp Lưu Hoa Thanh Lê Quốc An thông tin: “Gần một nửa số hộ làm muối ở đây không có nghề khác, họ chỉ trông chờ vào 6 tháng làm muối. Thế nhưng làm trúng mùa thì bị ép giá, thất mùa giá cao cũng không đủ sống. Muốn gắn với nghề cũng khó. Làm muối ở đây thiếu khoa học kỹ thuật, vì là nghề “cha truyền con nối”, phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết".
"Thời tiết thất thường, giá cả bấp bênh, muốn chuyển đổi sang nuôi trồng thì không biết nuôi trồng con, cây gì. Nhiều người không có đất, làm xong mùa muối thì kiếm việc làm mướn tại địa phương, hoặc đi nơi khác làm ăn, 6 tháng sau lại về làm muối tiếp", ông Lê Quốc An trần tình.
Đau đáu một làng nghề
Nghề làm muối ở ấp Lưu Hoa Thanh không chỉ gìn giữ một làng nghề truyền thống, nguồn cung cấp muối trong và ngoài tỉnh, mà còn góp phần tạo việc làm cho những người không có đất và nghề nghiệp ổn định. Đến mùa muối, mỗi người làm công cũng được trả 24 triệu đồng sau 6 tháng.
Cuộc sống khó khăn, không đất đai sản xuất, chị Danh Thị Bao cùng gia đình lặn lội từ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu qua đây làm công nghề muối. Hơn 12 năm nay, chị Bao rành rọt từ cách cào đất, phơi đất đến lấy nước, cào muối ở xứ làm muối này. Chị Bao chia sẻ: “Làm muối tuy cực, ở ngoài ruộng suốt ngày, nhưng quen rồi, cũng đủ sống. Muối không thể thiếu trong bữa ăn mỗi người, vậy mà nghề muối xưa giờ vẫn bấp bênh”.

Đợt mưa sau Tết nguyên đán khiến diêm dân Tân Thuận mất trắng vụ muối. Chị Danh Thị Bao đang bơm nước, làm vụ muối lại từ đầu.

Tổ hợp tác Diêm nghiệp được thành lập năm 2007, đến nay có 24 thành viên, nhằm hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong sản xuất muối. Vì có đầu tư khoa học kỹ thuật nên hạt muối Tân Thuận rất trắng, chất lượng cao. Vậy mà từ khi thành lập đến nay, tổ hợp tác vẫn không định được giá muối. Hạt muối diêm dân làm ra vẫn bị thương lái thu mua ép giá, bởi không bán cho họ thì không biết làm gì với lượng muối tồn kho.
Anh Lâm Thanh Tùng, Tổ trưởng Tổ hợp tác Diêm nghiệp, cho hay, từ lúc có nghề làm muối ở đây chưa năm nào trời mưa trái mùa như năm nay. Làm nghề muối mà trời mưa là trắng tay. Do đến tháng này mà vẫn chưa có muối thu hoạch nên thương lái ra giá từ 30.000 – 35.000 đồng/giạ.
“Nếu trúng mùa thì muối bị ép giá, tồn kho, hư hao, chỉ có diêm dân chịu thiệt. Trong khi đó nước mình lại đi nhập khẩu muối. Nếu nói muối diêm dân làm không chất lượng thì các ngành, các cấp hướng dẫn sao cho hạt muối tạo ra đạt chất lượng để vừa không phải nhập khẩu muối, vừa tạo ra thị trường tiêu thụ trong nước ổn định, cho bà con diêm dân yên tâm trụ vững với nghề”, anh Lâm Thanh Tùng bức xúc.
Mặc dù là làng nghề sản xuất thủ công truyền thống, nhưng mỗi năm ruộng muối ở Tân Thuận này cho năng suất trên 70 tấn/ha. Năm 2014, Sở Khoa học – công nghệ hỗ trợ 4 ao chứa nước cho diêm dân, mỗi ao ngang 4m, dài 16m, sâu 2m đã mang lại hiệu quả cao, nhưng bao nhiêu đó cũng chỉ là "muối bỏ biển".
Nếu được đầu tư thêm nhiều ao chứa nước như vậy thì diêm dân sẽ ứng phó được với thời tiết thất thường. Tuy nhiên, kinh phí thực hiện khá cao, mỗi ao đầu tư trên 20 triệu đồng. Sau những chuyến khảo sát của ngành chức năng, sự hỗ trợ diêm dân vẫn còn nằm trong “tính toán trên giấy tờ”.
Những cơn mưa trái mùa làm dịu đi vị mặn của biển nhưng lại làm cho vị muối của diêm dân trở nên đắng. Sự đắng cay ấy sẽ còn đeo đẳng họ bởi hơn 35 năm qua, những diêm dân Tân Thuận vẫn cô độc trên chính ruộng muối của mình.


Thảo Mơ

Khó chuyển đổi nghề

Ông Dương Hết Hồn, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thuận cho biết, hiện diêm dân đang đối mặt với 3 khó khăn lớn. Thứ nhất là thời tiết thất thường; thứ hai là đầu ra bấp bênh, giá cả không ổn định; thứ ba là nhiều hộ muốn chuyển đổi sang nghề khác nhưng không được, do điều kiện tự nhiên và vốn liếng, khoa học kỹ thuật hạn chế. Và hiện nguồn nước đang bị ô nhiễm do các khu công nghiệp, khu dân cư trong nội địa thải ra nên chuyện chuyển từ làm muối sang nuôi tôm rất khó thực hiện.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.