Thứ năm, 18-6-26 00:53:06
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Tôi đi học

Báo Cà Mau

Minh hoạ:  Lý Kiều Loan

Cơn mưa lớn hồi sáng sớm làm chiếc xuồng be chín đậu dưới mé sông lé đé nước, gần chìm.

Sau một hồi lắc cật lực, tát mỏi cả tay thì nước cũng khô. Tôi chỉnh lại mấy cái sạp rồi lấy cây sào tre cặp sát xuồng vô bờ.

Nghe tôi réo, anh Tư vác “đồ nghề” xuống bến, rồi hai anh em chuyển xuống xuồng. Ðồ nghề mà tôi nói là mấy cây trâm bầu chừng bằng cườm tay, mớ ván còng mới xả, mặt ván còn bám bụi, cây cưa, cây búa, bọc đinh và vài thứ lặt vặt khác. Sắp xếp xong xuôi, anh Tư cầm sào chống sau lái, tôi ngồi mũi bơi đi. Hôm nay là ngày tôi tựu trường.

Từ nhà tôi đến trường học chừng hơn một cây số, vừa chống, vừa chèo khoảng mười lăm phút là tới.

Trường tôi học những năm tiểu học là điểm trường ấp, có 5 phòng học, vừa đủ cho 5 lớp học buổi sáng và 5 lớp học buổi chiều.

Trường cũng mái ngói, vách xây gạch nhưng cơ sở vật chất vẫn còn lắm khó khăn. Mái ngói thì nơi lành nơi thủng, tường thì xây gạch đã lâu nhưng chưa trát bê-tông.

Trường có rất nhiều cái không: không tường rào, không nhà vệ sinh, không sân bê-tông. Cửa chính và cửa sổ cứ để tênh hênh, không che chắn, mặc cho gió từ ngoài sông thổi vào lồng lộng. Nền trường, từ trong ra ngoài toàn bằng đất lổm chổm, nứt nẻ. Và còn một cái “không” nữa, là lý do khiến anh em nhà tôi phải mang vác đồ nghề lỉnh kỉnh khi đi tựu trường, đó là không bàn ghế. Chính vì vậy, mỗi đầu năm học, phụ huynh phải mang cây ván tới đóng bàn học cho con em mình. Một cái bàn hai đứa ngồi, theo nguyên tắc thời đó là phụ huynh có con em học cùng lớp sẽ tự “bắt cặp” với nhau, tức là tìm một ai đó rủ nhau hùn vật liệu, đóng bàn cho tụi nhỏ ngồi chung. Nhà có nhiều con em đi học thì xin nhà trường xếp phòng học sao cho cái bàn ấy có thể phục vụ cho cả hai buổi sáng, chiều. Ngoài đóng bàn cho tôi và hai chị gái học khác buổi, anh Tư còn phải lo đóng bàn cho mình, vì anh là giáo viên của trường.

Xuồng chống tới nơi, đã thấy nhiều xuồng khác buộc dưới bến. Mỗi người một tay, giúp nhau khẩn trương chuyển vật liệu lên các phòng học, rồi bắt đầu công đoạn đóng bàn học cho đám học sinh. Tuỳ theo sức vóc, khả năng mà mỗi người một việc. Người thì đẽo cây, vạt nhọn rồi đóng thật chặt xuống đất; người thì đo đạc, cưa ván, bào nhẵn để đóng mặt bàn, làm chỗ ngồi. Những cái bàn năm học trước còn sót lại được gia cố, sửa lại cho chắc chắn rồi xài tiếp.

Bàn học sinh thời đó không có cái hộc phía dưới như bây giờ. Học sinh đến lớp cũng không đứa nào có cặp mang. Sách vở, đứa thì gộp chung lại rồi cứ thế ôm từ nhà tới trường, đứa nào kỹ hơn thì đựng trong cái bọc xà bông. Cũng may là những năm đó sách vở, đồ dùng học tập khá ít và đơn giản, chứ nhiều như chương trình bây giờ không biết tính sao?

Trong khi người lớn lo đóng bàn ghế, đám học sinh, dưới sự chỉ huy của thầy cô chủ nhiệm và lớp phó học tập thì lo làm vệ sinh bên trong, bên ngoài lớp học; sắp xếp lại khu vực bục giảng, lau chùi bảng đen; chặt cây, dọn cỏ bên hè cho thoáng đãng.

Do trường nằm gần khu vực nhà ở của người dân, 3 tháng hè không có người coi sóc nên khâu vệ sinh đầu năm học khá gian nan. Bà con gần đó thường nhân khoảng thời gian nghỉ hè, lấy sân trường, phòng học làm chỗ thả gà, vịt nuôi và mang… heo vào buộc. Vài người thiếu ý thức còn nhổ bàn, ghế học sinh về làm… củi chụm hoặc lấy ván, lấy đinh; trên tường thì dấu vẽ bậy, viết bậy chi chít. Thế nên, cứ vào năm học là thầy cô, phụ huynh và học sinh lại một phen vất vả, dọn dẹp cả ngày thì phòng học mới tươm tất để kịp ngày khai giảng và học tập trong năm học mới.

Tới ngày khai giảng, học sinh thường chọn bộ đồ đẹp nhất, tóc tai cắt tỉa gọn gàng, khăn quàng đỏ tươi tới lớp. Thời tôi học cấp một, tuyệt nhiên không có đồng phục, áo cũng không phù hiệu. Tập, vở đi học được bao bằng những tờ báo cũ, nhà nào có điều kiện thì bao bằng báo Liên Xô. Trường không yêu cầu dán nhãn nên trên góc tập thường ghi nắn nót cái tên vậy thôi, không ghi lớp vì phòng cái bìa bao ấy năm sau còn tốt thì dùng lại. Một tờ báo Liên Xô có khi bao tập được 2, 3 năm học; mặt bao phía ngoài cũ thì lộn ra, lấy mặt trong xài tiếp.

Ði học trong điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất khó khăn, nhưng bạn bè tôi đứa nào cũng ngoan, chăm học. Ðặc biệt, trong mắt học sinh thời đó thầy cô là “số một”. Ở nhà với cha mẹ có khi còn dám ương bướng, không nghe lời chứ gặp thầy cô là sợ một phép. Những đứa trò hư, bày trò quậy phá hoặc không thuộc bài, không làm bài tập về nhà… bị thầy cô phạt thường xuyên. Các hình thức phạt phổ biến là đứng tại chỗ, ra đứng trước cửa, hay đứng trong góc lớp. Những lỗi nặng còn bị bắt quỳ tại chỗ, quỳ trên bục giảng. Ðứng, quỳ bao lâu tuỳ vào lỗi nặng hay nhẹ. Trong một tiết học có khi đến 5, 7 đứa bị phạt, lớp đứng lớp quỳ. Thậm chí, nếu mắc lỗi nặng, học sinh còn bị thầy cô bắt xoè bàn tay ra rồi đánh bằng thước bảng.

Tuy bị phạt nặng, nhưng chưa thấy đứa học trò nào dám phàn nàn hay oán trách thầy cô; phụ huynh học sinh cũng chẳng ai bênh vực, phản ứng. Sau này, nhiều đứa trưởng thành, thành đạt, khi gặp lại thầy cô cũ còn nói tiếng cảm ơn, vì nhờ những lần bị phạt năm xưa mà sửa được thói hư, tật xấu.

Trường cũ của tôi nằm cách con sông xáng, bề rộng chừng 20 m. Những hôm đi bộ tới bờ sông, không có xuồng quá giang qua bờ bên kia, tôi và đám bạn lại cởi quần áo, bọc sổ sách rồi bơi qua. Tan học, chúng tôi lại lượm gạch tàu, ngói bể mài đạn bắn, hoặc chơi trò rượt đuổi trên sông. Mới tí tuổi đầu, chứ đứa nào cũng bơi, lặn giỏi như rái cá.

Ngày tháng qua đi, hết tiểu học chúng tôi chuyển lên trường xã. Ðám bạn cũ rơi rụng dần dần, bởi đứa thì qua xã khác học, đứa thì bỏ đèn sách theo gia đình vào cuộc mưu sinh. Lên cấp ba, rồi đại học thì còn hơn chục đứa thường xuyên gặp nhau, bạn cũ vài đứa vẫn còn nghèo, đứa trở thành nông dân sản xuất giỏi, đứa trở thành “ông này, bà nọ”. Xã hội hiện đại, thông tin liên lạc thuận tiện cũng khiến việc kết nối bạn bè dễ dàng hơn, nhưng cũng có những đứa hồi xưa rất dễ thương, nhưng hơn 30 năm rồi chưa một lần gặp lại. Trên đường về quê, thỉnh thoảng tôi dừng lại để ngắm ngôi trường thân yêu của mình khi xưa, hầu tìm lại chút dĩ vãng đẹp, với hình bóng thầy cô, bạn bè thân thiết. Trường giờ đã khang trang hơn nhiều. Chắc vì nằm ở vị trí thiết yếu, nên dù là điểm lẻ, nhưng trong các đợt sắp xếp trường lớp vừa rồi, ngôi trường ấy vẫn được giữ lại. Tôi thấy vui vui.

Dịch Covid-19 khiến cuộc sống đảo lộn. Theo lịch cũ thì đúng một tuần nữa học sinh Cà Mau sẽ tựu trường, ngày 5/9 khai giảng năm học mới. Hai ngày trước, dịch diễn biến phức tạp, UBND tỉnh đã chỉ đạo hoãn ngày khai giảng, chờ thông báo mới. Vậy là hai đứa con tôi cùng hàng vạn học sinh khác vẫn chưa biết được ngày đến trường của mình.

Tình hình này, có lẽ học sinh đến trường phải làm bạn với chiếc khẩu trang một cách lâu dài, và thậm chí nếu dịch phức tạp thì phải học tại nhà qua truyền hình hay Internet. Những phương pháp ấy, có chăng cũng chỉ là tình thế, không thể hiệu quả bằng học ở trường, nơi có thầy cô tận tình chỉ bảo và bạn bè thân thiết xung quanh. Những ngày này, sự tương tác, giao lưu giữa người với người vốn là chuyện tự nhiên xưa nay, bỗng chốc trở thành xa xỉ.

Học sinh thời nay trường lớp khang trang, vật chất đủ đầy, nhưng xem ra chưa hẳn là sướng hơn chúng tôi đi học hồi 30 năm trước. Nếu là ngày ấy, từ hôm nay, tôi đã sẵn sàng để đến trường rồi.

Gần đây, người ta vẫn hay nói một câu tưởng ngược đời, mà lại đúng “Bao giờ cho đến ngày xưa”!

 

Tuấn Ngọc

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.