Thứ bảy, 31-10-26 03:22:51
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

U Minh mùa sa mưa

Báo Cà Mau (CMO) Mùa này, trời U Minh chợt nắng, chợt mưa. Và mùa này, cuộc mưu sinh của người dân dưới tán rừng U Minh bạt ngàn lặng lẽ nhưng rất khắc nghiệt.

7 giờ sáng, trời bỗng mưa như trút nước, tôi ghé vội vào nhà dân trú mưa, ngay nhà ông Trưởng Ấp 16, xã Khánh Thuận Trần Bình Long (Bảy Long). Ông Bảy Long đang ngồi vá lọp với ông hàng xóm. Sẵn có khách “nhiều chuyện”, câu chuyện mưu sinh dưới tán rừng được mang ra làm chủ đề chính để bàn luận.

Ông Hai Linh giở lợp sau đợt mưa, đây là cái lọp thứ ba mới thấy vài con cá.

Ông hàng xóm Phạm Chí Linh (Hai Linh, Ấp 16, xã Khánh Thuận) trầm ngâm: “Tôi trồng 5 ha rừng tràm được gần 4 năm rồi. Hai năm nữa là khai thác. Ở ấp này chỉ còn một vài hộ làm một vụ lúa. Một công 15–20 giạ (dưới 3 tấn/ha – PV) thì có thấm tháp gì. Mấy chục hộ còn lại thì đắp bờ, lên liếp trồng keo lai, trồng tràm, trồng chuối, lợi nhuận cao hơn. Đợt chuối có giá 4.000–5.000 đồng/nải thì một tháng cũng được 6–7 triệu đồng. Ba tháng nay chuối rớt giá, chỉ còn 2.000 đồng/nải. Ở trong rừng, quanh năm suốt tháng sống dựa vào cây tràm, cây chuối, mà giá cả như vầy sao khá nổi”.

Chật vật giữa “rừng vàng”

Dứt mưa, ông Bảy Long chống xuồng đi giở mấy cái lọp, ống trúm đặt hồi hôm. Một cái, hai cái, đến cái thứ ba thì mới thấy vài con cá sặc với con cá lóc bằng nửa cổ tay. Mũi xuồng lướt trên mặt bèo tiến vào rừng.

Ông Hai Linh kể, thuở ông còn trai tráng “mười bảy bẻ gãy sừng trâu”, mưa xuống cá rô lóc ngóc trên bờ. Con cá lóc bự bằng bắp đùi. Mỗi lần giở lọp là đầy khạp, đầy xuồng be tám. Cá, lươn, rùa… thứ gì cũng có. Ăn ong thì lấy một lần cả trăm lít mật, nghe mùi riết ngán...

Nhưng đó là chuyện vài chục năm về trước. Nhất là từ khi chuyển qua trồng keo lai đến nay, sản vật trong rừng ngày một khan hiếm. Ông Bảy Long bộc bạch: “Chỗ nào trồng keo lai là nước ở đó rất ít cá. Một phần do người dân xiệc điện nên nguồn cá đồng ngày một cạn kiệt. Đặt lọp có khi hai ba ngày không có con nào. Chừng 2 năm nay không thấy mặt mũi con rùa ra làm sao”.

Đi gần hết 6 ha rừng tràm mà vẫn không thấy kèo ong nào có mật. Ông Hai Linh cho biết, qua Tết đến nay, ông gác hơn 100 kèo ong, vậy mà vẫn chưa được 20 lít mật. Do điều kiện thời tiết và môi trường sống thay đổi nên ong không về làm tổ, nếu có thì lượng mật cũng không nhiều. Điều kiện sinh sống trong lâm phần vốn đã khó khăn, việc đi lại, buôn bán lại càng vất vả, trong khi sản vật trong rừng bị khai thác, đánh bắt ngày một cạn kiệt.

“Làm lúa chục công một năm chỉ được năm, sáu chục giạ. Năm nào mưa lớn là lúa ngập hết. Hai năm rồi tôi đâu có làm lúa nữa. Chuối bán ra giá cả cũng bấp bênh quá. Một năm 12 tháng mà rớt giá hết 6 – 7 tháng, mấy tháng còn lại bán ngay lúc giá cao thì gỡ gạc được chút đỉnh. Ấp 16 có 115 hộ thì có đến 28 hộ nghèo. Một số thì không có đất sản xuất thì làm công nhân cho công ty gỗ, một số thì đi Bình Dương, Đồng Nai kiếm sống”, ông Long bùi ngùi.

Sống nhờ “lộc trời”

Sau vài trận mưa, cây cối như được thay áo mới. Những ngày này, ruộng lúa các ấp lâm phần xã Khánh Lâm đã lênh láng nước. Hẹ nước cũng lên được khoảng 2 tấc, người dân nơi đây gọi nó là “lộc trời”.

Hẹ nước mang lại thu nhập thời vụ cho người dân không có đất sản xuất.

Tờ mờ sáng, khi trời vẫn còn mưa rả rích, chị Trương Kiều Diễm (Ấp 13, xã Khánh Lâm) cùng với mười mấy người trong xóm tất bật ra đồng nhổ hẹ nước. Đến trưa, mọi người mới kéo nhau về một nhà để cắt rễ và rửa hẹ sạch sẽ rồi cân bán lại cho thương lái với giá 10.000 đồng/kg.

Chị Diễm vui vẻ: “Trước khi đi nhổ hẹ là mình phải xin chủ ruộng có hẹ cho nhổ mới được nhổ. Chỉ có ruộng lúa mấy ấp trong rừng mới có, nhưng ruộng có, ruộng không. Mỗi người một ngày làm cũng được khoảng 20 kg hẹ, nhờ vậy mà có tiền trang trải trong nhà”.

Cây chuối có giá bấp bênh, nông dân cũng gặp không ít khốn đốn khi trồng loại cây này.

Chị Dương Thị Tuyết Nga, Ấp 13, xã Khánh Lâm chia sẻ: “Không có đất nên tôi đi cấy mướn cho người ta không à. Mấy năm nay làm lúa cũng không còn trúng nữa, một năm được chừng 40–50 giạ. Thời gian nhàn rỗi thì tìm việc gì làm để kiếm thêm thu nhập. Mấy tháng mùa mưa đi nhổ hẹ nước bán cũng đỡ hơn đi giăng câu, giăng lưới, nhờ vậy mà cũng đủ trang trải chi phí trong gia đình”.

“Trước đây người dân chưa biết đến giá trị kinh tế của hẹ nước. Khoảng 3 năm trở lại đây mới có thương lái đến mua. Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã còn hơn 27%. Những hộ này đa số không có đất sản xuất, nên vào mùa hẹ nước thì tranh thủ nhổ hẹ bán, góp phần cải thiện kinh tế gia đình”, ông Lê Thanh Mãi, Phó Chủ tịch xã Khánh Lâm nói.

Và cuộc sống của họ bấp bênh qua từng mùa mưa. Rừng U Minh đang bị con người khai thác quá mức, nguồn lợi đã cạn kiệt. Để “rừng vàng” mang lại nguồn sinh kế bền vững cho hàng ngàn hộ dân dưới tán rừng thì phải biết gìn giữ tài nguyên rừng. Thế nhưng, dân nghèo hiện sống bám víu vào rừng không thể có những tính toán lâu dài, căn cơ. Cuộc sống của người dân xứ tràm sẽ khởi sắc hơn chỉ khi có sự hoạch định chiến lược và sự đầu tư hợp lý.

Chị Trần Thị Hương lo mẻ than sẽ bị nát vì trời mưa.

Thuộc diện cận nghèo, chị Trần Thị Hương (Ấp 14, xã Khánh Lâm) vẫn không biết xoay sở ra sao khi số nợ ngân hàng ngày càng khó trả. Điều kiện sống ngày càng khó khăn khi phải chật vật với miếng cơm manh áo giữa rừng. Chị Hương ngậm ngùi: “Mấy năm nay, một công lúa một năm chưa được 40 giạ (tương đương 6 tấn/ha), nên tui hầm than phụ thêm để kiếm tiền trang trải trong nhà. Hầm than mà gặp mưa hoài như vầy là than nát nhiều lắm, người ta chê, giá bán cũng rẻ hơn mùa hạn. Một bao khoảng 14 kg có 60 – 70 ngàn đồng. Mua đọt tràm 1 ha cũng hơn 1 triệu đồng rồi. Xem như bỏ công kiếm sống qua ngày chứ không hầm than thì không biết làm nghề gì sống nữa”.

Thảo Mơ

Ðể di sản trở thành nguồn lực phát triển - Bài cuối: Vun bồi cho nguồn lực nội sinh

Là vùng đất hội tụ nhiều lớp trầm tích văn hoá của miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc bảo tồn di sản không chỉ là giữ lại những giá trị của quá khứ, mà quan trọng hơn là vun bồi để di sản tiếp tục sống và tạo ra những giá trị mới mà không đánh mất bản sắc.

Giữ mạch sống đồng quê - Kỳ cuối: Giữ cá hôm nay - Giữ quê ngày mai

Những năm gần đây, cá đồng vùng ngọt Cà Mau ngày một ít dần. Bên cạnh tác động của thời tiết, môi trường, tình trạng khai thác thiếu kiểm soát, nhất là các hình thức tận diệt, khiến nguồn lợi suy giảm.

Giữ mạch sống đồng quê

Ngày trước, cứ mùa mưa, nước tràn đồng là cá theo con nước tìm về, nuôi sống bao thế hệ người dân vùng ngọt Cà Mau. Nay, những mùa cá đầy đồng thưa dần. Nguồn lợi suy giảm, tình trạng khai thác tận diệt đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giữ lại không chỉ một nguồn sinh kế, mà cả hệ sinh thái và những giá trị văn hoá gắn với đồng quê. Tuyến bài “Giữ mạch đồng quê” nhìn từ thực trạng suy giảm nguồn lợi cá đồng, tác động của khai thác thiếu kiểm soát và những nỗ lực cứu vãn đang được triển khai. Thay đổi cách khai thác, phục hồi môi trường sống, gắn bảo tồn với sinh kế là hướng để con cá trở lại đồng quê Cà Mau một cách bền vững.

“Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”

Nắng sớm Ba Ðình trải nhẹ trên những hàng tre xanh ngắt, dịu dàng như vòng tay ôm trọn lấy không gian thiêng liêng. Bước chân trên khoảng sân rộng lớn, câu thơ quen thuộc tự nhiên vang lên trong tâm trí tôi: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác...”.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.