Thứ năm, 18-6-26 19:11:45
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Về đâu làng nghề đan đát

Báo Cà Mau (CMO) Trải qua biến đổi, thăng trầm của thời gian, dọc theo con sông Cái Tàu, làng nghề đan đát truyền thống xã Nguyễn Phích, huyện U Minh vẫn còn hiện hữu. Những cái rổ, cái nia, xịa vẫn đẹp bình dị, mộc mạc, bởi bàn tay của những “nghệ nhân miệt vườn”.

Nguyên liệu để làm ra sản phẩm đan đát chủ yếu là trúc. Thế nhưng, những năm gần đây, việc người dân đưa nước mặn vào nuôi tôm làm cho diện tích trồng trúc dần bị thu hẹp. Thiếu nguyên liệu, nếu không phục hồi và mở rộng diện tích trồng trúc thì nghề đan đát truyền thống ở xã Nguyễn Phích có thể chỉ còn là hồi ức.

Vang bóng một thời

Không đan thúng hay mê bồ như ở Tân Bằng, làng nghề đan đát ở Nguyễn Phích chủ yếu đan những vật dụng nhỏ, được sử dụng hằng ngày như: rổ, xịa, xề, nia, giần, sàng. Đó là những vật dụng tưởng chừng như đã bị lãng quên nhưng đến nay vẫn được người dân Cái Tàu gìn giữ.

Làng nghề đan đát Nguyễn Phích hình thành từ những ngày mở đất. Làng nghề tập trung nhiều từ Ấp 1 đến Ấp 5 với hơn một trăm hộ làm nghề. Sau giải phóng, nghề đan đát trở thành nghề tạo thu nhập chính của người dân nơi đây. Với bàn tay khéo léo, một ngày, mỗi người có thể làm ra 2 cái rổ, hoặc 3 cái xịa; còn đàn ông thì làm những việc nặng nhọc như như chặt tre, chẻ trúc, vót vành.

Chị Nguyễn Thị Thu (Ấp 5, xã Nguyễn Phích) đã biết lận nan, đan rổ khi mới 16 tuổi. Gắn bó với nghề đan đát ngót nghét đã hơn 30 năm, bây giờ tóc đã có vài sợi bạc, nhưng chị vẫn trụ lại với nghề đan đát này. Chị Thu tâm sự: “Hồi đó làm nghề này thu nhập khá nên mê lắm, mà thời đó một cái rổ có 4 – 5 ngàn đồng. Đan tới phồng tay luôn mà. Rồi tôi lấy chồng, sinh con, tới giờ vẫn còn đan. Dù có nhiều nghề khác mang lại thu nhập cao hơn nhiều nhưng đã quen với nghề này rồi, bỏ không được”.

Bà Võ Thị Phấn (67 tuổi, Ấp 2, xã Nguyễn Phích) tay đã run nhưng vẫn rất nhanh nhẹn lận từng sợi nan. Từ những năm chồng bà đi kháng chiến đến khi giải phóng, cả gia đình mới được đoàn tụ, nhưng cũng chưa được cùng nhau quét vôi ăn trầu thì ông mất. Bà vẫn ở vậy, đan đát, nuôi con. Trong xóm, những người cùng thời với bà không còn được mấy ai. Dù đã ở cái tuổi gần đất xa trời nhưng bà vẫn miệt mài với cái nia, cái rổ.

Để duy trì nghề đan đát người dân phải đi mua nguyên liệu ở địa phương khác.

Bà Phấn bồi hồi nhớ: “Tôi thấy má làm rồi ngồi kế bên học đan, lận nan rồi biết làm hồi nào không hay. Cả nhà 4 người đan chừng một tuần được cỡ 60–70 cái rổ, cái giần là bán cho ghe. Ghe chạy vô tới đầu kinh, mỗi nhà bơi xuồng nhỏ chở ra đó đếm bán. Mấy chiếc ghe đi Năm Căn, Ngọc Hiển, Thới Bình, có khi qua Bạc Liêu, Kiên Giang để bán, chừng vài ba ngày là hết. Hồi đó toàn xài đồ đan bằng tre, bằng trúc, đâu có đồ nhựa, đồ nhôm như bây giờ. Khi đan phải hết sức tỉ mỉ, chọn trúc, tre mỡ chứ không phải tre tàu nên sản phẩm làm ra đẹp mắt lẫn chất lượng, xài 6 – 7 năm mà chưa hư”.

Đừng để thành ký ức

Trước đây, làng đan đát xã Nguyễn Phích có trên 100 hộ làm nghề. Để hỗ trợ nhau về vốn và nhân công, xã Nguyễn Phích thành lập nhiều tổ hợp tác đan đát, nhưng đến nay chỉ còn 2 tổ hoạt động ở Ấp 5 và Ấp 2 và số thành viên cũng giảm dần, chỉ còn khoảng 20 người. Các tổ còn lại do không có trúc và tre để mua làm nguyên liệu nên không còn hoạt động.

Chị Nguyễn Thanh Tuyền (Ấp 2, xã Nguyễn Phích ) nói: “Thanh niên xóm này ai cũng biết đan, nhưng không ai theo nghề, mà đi Bình Dương, Sài Gòn làm, hoặc đi làm công ty trong tỉnh có thu nhập cao hơn. Chỉ còn mấy bà, mấy cô, mấy chị ở nhà tranh thủ bếp núc, chuyện nhà rồi mới ngồi đan vì vừa kiếm thêm thu nhập, vừa không muốn bỏ nghề truyền thống. Ở đây thu nhập chính dựa vào con tôm chứ thiệt tình cả nhà chỉ làm nghề này thì không sống nổi”.

Bà Lê Thị Cẩm Giang, Tổ trưởng Tổ hợp tác đan đát Ấp 2, xã Nguyễn Phích, ngậm ngùi: “Bây giờ học nghề không khó, cái khó là có sống được với nghề hay không vì không phải ai cũng kiên trì được với nghề đan đát này. Mỗi tháng tranh thủ đan nhiều lắm cũng được 60 - 70 cái. Rồi đếm bán cho xe, xuồng, ghe tới mua, trừ chi phí tre, trúc, dây gân, mỗi hộ lời chưa được 1 triệu đồng”.

Bà Nguyễn Thị Khiếm, năm nay đã 68 tuổi (Ấp 2, xã Nguyễn Phích), là một trong số ít người còn giữ mảnh vườn trồng trúc sau nhà. Gần 40 bụi trúc đã hơn 30 năm, tới mùa bà mới bán cho người làm nghề đan. Khi thảnh thơi là bà ra vườn, tự tay bón phân, vun gốc, chặt nhánh cho từng cây trúc.

Bà Nguyễn Thị Khiếm chăm sóc những bụi trúc còn lại của gia đình.

Bà Khiếm kể lại: “Mấy chục năm trước, cả mảnh vườn gần 1 ha này trồng toàn trúc. Sau này chuyển qua nuôi tôm phải phá bỏ hết, tôi kêu mấy đứa nhỏ chừa lại một ít bụi sau nhà để nhớ về nghề của ông bà”.

Ông Lê Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích, cho biết, hiện diện tích trồng trúc của xã bị thu hẹp, chỉ còn khoảng 1 ha, không đủ cung cấp nguyên liệu làm nghề. Do người dân lấy nước mặn vào ruộng nuôi tôm và chuyển qua trồng các loại cây ăn trái khác nên số hộ làm nghề đan đát cũng dần ít đi. Chính quyền địa phương đang vận động bà con tận dụng đất trống để trồng lại trúc, tre nhằm duy trì nghề này. Thế nhưng xem ra, để người dân làm giàu từ nghề thì lời kêu gọi suông là chưa đủ.

Thiếu nguyên liệu, nghề đan đát truyền thống có nguy cơ mai một.

Giờ đây, dọc theo con sông Cái Tàu, hình ảnh những chiếc ghe nườm nượp chở đầy rổ, nia, xịa không còn nữa. Những rặng trúc mọc sau nhà cũng thưa thớt dần, thay vào đó là những đầm tôm mênh mông. Tiếng cười nói của các anh ngồi chẻ tre, các chị ngồi đan cũng không còn nữa. Người nặng tình với nghề cũng chỉ còn vài người cố cựu muốn lưu giữ lại nghề truyền thống này...

Phóng sự của Thảo Mơ

Chị Lữ Thu Hồng, Phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã Nguyễn Phích, trăn trở: “Hội LHPN tỉnh cũng có hướng hỗ trợ tổ đan đát, nhưng cái khó không phải thiếu vốn mà thiếu nguyên liệu. Bây giờ muốn đan phải đi kiếm mua trúc khắp nơi. Còn tre, trúc bên Tân Bằng, Biển Bạch chủ yếu bán cho các ghe ở các tỉnh trên về mua với số lượng lớn, chứ không bán lẻ. Điều cần thiết nhất bây giờ là giải pháp phục hồi và mở rộng diện tích trồng trúc, để có nguồn nguyên liệu cũng cấp cho những hộ làm nghề đan đát tiếp tục duy trì nghề truyền thống này”.

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.