Thứ ba, 13-1-26 07:30:47
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dừa khô rụng xuống bên hè

Báo Cà Mau (CMO) Cà Mau những ngày giãn cách, chỉ có thể diễn tả bằng hai tiếng “buồn hiu”. Thời gian như trôi chậm lại. Không khí sôi động, hối hả thường ngày nhường chỗ cho một không gian trầm lắng đến nao nao.

Hẻm nhỏ nhà tôi, cách một trong những con đường lớn nhất thành phố Cà Mau chỉ một đỗi ngắn, nhưng ngày cũng vắng tiếng xe, màn đêm buông xuống thì im ắng đến tĩnh mịch. Tiếng rao hàng của người đi bán dạo, tiếng lũ trẻ hàng xóm chơi đùa lao xao, và cả tiếng chiếc xe bò viên của hai vợ chồng cuối xóm, khuya khuya ì ạch lăn trên đường về… vốn đã quen tai, nay cũng không còn nghe nữa.

Cà Mau dạo này hay mưa đêm. Khi tiếng gió, tiếng mưa qua đi thì vạn vật lại rơi vào một vùng tĩnh lặng. Con người ta thật lạ, khi gặp cảnh ồn ào thì ước có một không gian im ắng, nhưng khi sự im lặng đến quá mức bình thường thì họ lại thèm được nghe những âm thanh quen thuộc hàng ngày; thậm chí là mường tượng những tiếng vọng về từ quá khứ xa xăm. Ðó là cái thời tuy thiếu thốn về vật chất, nhưng người ta có thể sống một cách vô ưu, vô lo. Con nít sinh ra được nuôi bằng con cá, cọng rau cùng những sản vật tự nhiên mộc mạc, gần gũi với quê hương, vậy mà cứ lớn lên sân sẩn như cây tràm, cây đước; người lớn thì không phải tính toán làm sao để đối phó với các loại dịch bệnh truyền nhiễm lây lan, phức tạp như bây giờ.

Những ngày giãn cách im lặng đến ngột ngạt, tôi chợt thèm được trở về với thuở ấu thơ, đêm đêm ngủ mùng trên ván ngựa, thưởng thức bản giao hưởng của lũ côn trùng trỗi vang trong đám rau gần cửa sổ, lắng tai nghe tiếng cá táp mồi “cum cum” trong mấy cái ao cạn. Nhớ nhất là tiếng mấy trái dừa khô rụng xuống bên hè, một thứ âm thanh rất đời thường mà nhiều năm rồi tôi chưa một lần nghe lại.

Trước chuyển đổi sản xuất, các vùng nông thôn Cà Mau trồng rất nhiều dừa, giống cây lâu năm gần như duy nhất thời đó. Mặc dù giá trị kinh tế mang lại không cao, nhưng các sản phẩm từ cây dừa lại rất thiết thân và hữu dụng trong đời sống hàng ngày, nên loài cây này vẫn được người dân ưa chuộng. Nói không ngoa, bên cạnh cây lúa thì cây dừa là một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng của vùng nông thôn, không chỉ riêng Cà Mau, mà còn với nhiều tỉnh, thành khác trong khu vực.

Thời gian đó, dừa tươi hầu như chẳng ai mua, thỉnh thoảng có vài chiếc xuồng mua dừa khô dạo, mà người ta chỉ lựa mua dừa trái lớn, tròn đẹp. Cây dừa thấp thì leo hái, dừa cao non chục thước thì dùng cây móc bằng tre; riêng những cây dừa lão cao từ mười mấy đến hai chục thước thì chỉ còn cách chờ cho dừa thật khô, rồi tự rụng chứ không tài nào hái được.

Hàng dừa quê mẹ.

Dừa lão thường sai trái, lại ít khi bị chuột, dơi cắn phá. Vắt vẻo trên cao là những quày dừa khô lớn, cồng kềnh. Muốn ngồi nghỉ chân dưới gốc dừa thì phải ngó chừng trên ngọn, nếu thấy có dừa khô thì mau chóng tránh xa. Dừa khô phần nhiều rụng ban đêm, khi trời nhiều gió. Những ai sống ở nông thôn đủ lâu sẽ dễ dàng phân biệt âm thanh của tiếng dừa rụng, chỉ cần nghe tiếng là biết đó là dừa khô hay dừa tươi (dừa tươi rụng do bị bọn chuột hoặc dơi quạ khoét thủng để ăn).

Dừa rụng trên bờ, dừa rụng dưới mương. Cứ vài ngày, tôi lại được người lớn “phân công” bơi xuồng trong các con mương liếp để vớt dừa khô. Vớt một buổi có khi đầy xuồng. Mương nào không có đường xuồng vô thì dùng sào vớt dừa lên, lấy mũi mác cạy vỏ dừa lôi ra một đoạn chừng bằng ngón tay út rồi buộc chùm chúng lại, xách một bận vài cặp vô nhà. Vỏ dừa cứng và thô ráp, xách nhiều bận là bàn tay nổi lằn ngang dọc, đau ê ẩm chứ chả chơi.

Dừa khô được “tập kết” thành đống bên hiên nhà hoặc trước sân, chờ xuồng kêu bán. Số dừa không bán được thì chẻ ra, phơi khô rồi cạy cơm đem bán cũng được kha khá tiền.

Cũng như đám con nít nông thôn, tôi rất thích không khí náo nhiệt trong những lần gia đình tổ chức chẻ dừa khô, bởi thế nào cũng được thưởng thức món mộng dừa ngon lành. Dừa khô để vài bữa thì mười trái có đến năm ba trái lên mộng. Khi chẻ ra, trong ruột gáo dừa lộ ra cái mộng tròn trịa, trắng tươi, vừa ngọt vừa giòn rụm, ăn mắc ngây. Ngày nào chẻ nhiều dừa, mộng đựng đầy cả rổ. Cái thú ăn mộng dừa và mùi vị thơm ngon của nó là khoảnh khắc trải nghiệm đầy thú vị của tuổi thơ, mà bây giờ khó tìm lại được.

Ngoài “sản phẩm” chính là cơm dừa để bán và mộng dừa cho con nít ăn chơi, khi chẻ dừa khô nhà nông còn thu được một lượng nước dừa đáng kể để “thắng” nước màu. Cái món nước màu đặc sệt từ nước dừa mà đem ướp, kho cá thì thơm, ngon đáo để. Vỏ dừa phơi khô là chất đốt quen thuộc hàng ngày.

Trong nhà lúc nào cũng sẵn dừa khô, nên rất nhiều món ăn ở nông thôn được các bà, các chị có sáng kiến chế biến từ nước cốt dừa. Những ai từng sống ở thôn quê, hẳn khó mà quên được hương vị nồng nàn của món bí rợ hầm dừa, đã được tôn lên tầm “huyền thoại”. Bánh dân gian nhà làm, hầu như món nào cũng có sự hiện diện của dừa nạo trộn hoặc nước cốt dừa. Hồi nhỏ, tôi mê mẩn món chè đậu xanh chan nước cốt dừa má nấu. Cứ mỗi lần trong nhà có dừa khô, hoặc ra vườn lượm được trái dừa ngon là tôi lại òn ỉ má nấu chè cho ăn.

Ngày hè, có món chè đậu xanh nấu bằng gạo nếp, thêm ít bột khoai xanh đỏ tím vàng, múc ra tô bốc khói nghi ngút, chan vô một muỗng nước cốt dừa rồi vừa thổi, vừa ăn, mồ hôi mẹ mồ hôi con cứ túa ra nườm nượp.

Dừa khô rụng xuống bên hè

Lượm vô kêu má nấu chè đậu xanh

Hai câu thơ con cóc ấy được tôi “sáng tác” khi nào không rõ, nhưng chắc đã lâu lắm rồi. Mỗi lần đọc lại vẫn thấy vui vui và nghe thèm món chè đậu xanh má nấu.

Trái dừa khô, với từng người trong nhà, tuỳ giới, tuỳ độ tuổi mà có những tác dụng riêng. Với các anh chị tuổi cập kê, gáo dừa là nhiên liệu không thể thiếu dùng cho cái bàn ủi con gà, ủi áo quần láng bóng mỗi khi có gánh hát về hay đi ăn cưới. Phụ nữ hầu như ai cũng có một hũ dầu dừa riêng để thoa lên tóc cho mượt, cho thơm.

Xưa các lão nông thường chọn những trái dừa khô lớn, tròn, đẹp để moi ruột làm vỏ đựng bình trà. Trên bộ bàn giữa nhà, vỏ dừa đựng bình trà bày trang trọng, nhìn vừa “sang” vừa có tác dụng giữ nhiệt rất tốt. Bây giờ, về các vùng nông thôn vẫn còn nhiều gia đình sử dụng món đồ này, vừa tiện dụng, vừa rẻ tiền và nhắc nhớ về những kỷ niệm của một thời xưa cũ. Tôi cũng như nhiều đứa trẻ nông thôn khác, hồi nhỏ lấy bốn trái dừa cột thành hai chùm, quàng vô nách tập bơi ở mấy cái ao hoặc con rạch trước nhà. Cứ vậy mà biết bơi, rồi bơi giỏi.

Sau khi Cà Mau chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nhiều vùng ngọt chuyển sang nuôi tôm và luân canh lúa - tôm thì các vườn dừa ngày càng bị thu hẹp. Tại một số vùng ngọt hoá, người ta cũng phá dừa để trồng các loại cây ngắn ngày hơn và được cho là có hiệu quả kinh tế cao hơn. Về nông thôn, những vườn dừa xanh mướt, những cây dừa lão cao lêu nghêu không còn nhiều như xưa, nếu còn thì cũng xơ xác, ít trái vì đất nhiễm mặn và thiếu bàn tay chăm sóc.

Vài năm gần đây, các vườn dừa ở Cà Mau đang có dấu hiệu hồi sinh. Dừa tươi có giá cao, dễ tiêu thụ nên nhiều nông dân bắt đầu trồng lại. Các giống dừa mới được lai tạo, trồng không bao lâu thì đã cho trái và trái cũng rất sai. Ðây là tín hiệu đáng mừng, bởi ngoài hiệu quả kinh tế, sự hồi sinh của cây dừa cũng là một nét đẹp đời thường, có tầm văn hoá.

Những ngày nằm nhà tránh dịch, thỉnh thoảng tôi lại ngâm nga thi phẩm “Dừa ơi” của Nhà thơ Lê Anh Xuân. Nhớ quê cồn cào, tôi thèm ngắm những ngọn dừa cao, chênh chao trong gió; thèm nghe tiếng lá dừa khua vào nhau xào xạc và tiếng dừa khô rụng bên hè; thèm đến ngẩn ngơ cái mùi thơm thơm, béo béo của món chè đậu xanh nước cốt dừa má nấu. Lắm lúc, tôi lại nhớ đến những ngày lén lấy, rồi nằm thử cái gối kê đầu bằng trái dừa điếc của ba. Gối cứng ngắc nhưng nằm vẫn nghe sao thinh thích lạ.

Ðắm chìm dòng hồi tưởng miên man, tôi tự nhủ hết dịch sẽ về quê, tìm lại những kỷ niệm rất đỗi thân thương với hàng dừa sau nhà, và cuối cùng là thưởng thức món chè má nấu. Nhất định rồi!

 

Tuấn Ngọc

 

Giữa lòng Hà Nội, tôi vẫn nghe tiếng sóng Cà Mau...

Hơn 7 năm khoác ba lô vào Cà Mau, tôi vẫn nhớ như in buổi sớm đầu tiên khi những cơn gió mằn mặn từ biển Tây thổi qua vai áo. Trời đất nơi địa đầu cực Nam hôm ấy rộng đến mức khiến sĩ quan trẻ như tôi vừa háo hức, vừa choáng ngợp. Nhưng rồi, bằng một cách rất tự nhiên, Cà Mau dần đi vào đời sống của tôi, thấm vào từng bước chân và trở thành một phần ký ức mà dù có qua bao năm tháng vẫn không thể phai mờ.

Hòn Khoai - Ngọn lửa lịch sử còn cháy mãi

Đã 85 năm trôi qua kể từ cuộc Khởi nghĩa Hòn Khoai (13/12/1940), nhưng với người dân Cà Mau, ký ức về thầy giáo - chiến sĩ Phan Ngọc Hiển cùng các anh hùng khởi nghĩa vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua. Giữa biển trời mênh mông của địa đầu cực Nam Tổ quốc, Hòn Khoai không chỉ là một hòn đảo, mà còn là biểu tượng bất khuất của lòng yêu nước và ý chí cách mạng.

SỨC MẠNH GẮN KẾT TÌNH QUÂN - DÂN

Công tác dân vận luôn được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, là “cầu nối” bền chặt giữa lực lượng vũ trang với Nhân dân. Thấm nhuần quan điểm của Đảng về công tác dân vận trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển (CSB) 4 và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Cà Mau đã triển khai hiệu quả phong trào thi đua “Dân vận khéo”, xây dựng “Đơn vị dân vận tốt” giai đoạn 2021-2025, góp phần củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh Nhân dân vững chắc từ sớm, từ xa trên vùng biển Tây Nam Tổ quốc.

Nét đẹp làng nghề xứ biển

Hình thành từ đời sống lao động sản xuất và bản sắc văn hoá của người dân bản địa, nhiều làng nghề ở các xã ven biển Cà Mau được lưu giữ, duy trì sức sống hơn 100 năm qua. Với bà con xứ biển, các nghề truyền thống không chỉ là sinh kế, mà còn là niềm tự hào, từ đó thêm gắn bó, nỗ lực giữ gìn.

Ngành giáo dục tiên phong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng

Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách mà đã trở thành trách nhiệm chung của toàn xã hội. Đặc biệt, đối với ngành giáo dục, đây được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đòi hỏi mỗi thầy cô giáo, mỗi học sinh, sinh viên trở thành những “chiến sĩ” tiên phong trên mặt trận tư tưởng.

Bà Phạm Thị Mỹ Não: Từ bi phải có trí tuệ

Trong nhịp sống hôm nay, guồng quay cơm áo nhiều khi khiến người ta trở nên vội vã thì những câu chuyện về sự sẻ chia lại càng có giá trị gấp bội. Ở tuổi 66, bà Phạm Thị Mỹ Não (phường Tân Thành) vẫn bền bỉ gieo hạt lành, kết nối những tấm lòng thiện nguyện để dựng xây cầu nông thôn, cất mái nhà cho bà con nghèo an cư lạc nghiệp.

Xẻo Đước anh hùng

Những người dân cố cựu ấp Xẻo Đước, trong đó có những người trực tiếp tham gia công tác tại các cơ quan của Tỉnh uỷ Cà Mau khi nhắc nhớ Khu Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Đước (ấp Xẻo Đước, xã Phú Mỹ) là giọng nói sôi nổi, đôi mắt sáng rực, lòng trào dâng sự tự hào khôn tả.

Mùa vú sữa trên miền quê mới

Tháng 8, khi từng cơn gió từ biển Tây lướt qua rặng đước, rừng tràm bạt ngàn xanh thẫm, cũng là lúc lòng người dân Cà Mau lại trào dâng xúc động, thành kính nhớ về Bác Hồ. Hơn 55 năm kể từ ngày Người để lại bản Di chúc thiêng liêng, mỗi câu chữ vẫn còn vẹn nguyên giá trị, soi sáng hành trình cách mạng, nâng đỡ ý chí và tinh thần Nhân dân trên từng nẻo quê hương cực Nam của Tổ quốc.

Phát triển kinh tế tư nhân - Khát vọng "hoá Gióng" - Bài cuối: Hành động để đổi mới, vươn xa 

Nghị quyết 68 đã xác định những mục tiêu chiến lược, nhưng mục tiêu ấy không thể biến thành hiện thực nếu khâu tổ chức thực hiện thiếu sự tập trung, quyết liệt. Để nghị quyết thực sự đi vào đời sống xã hội một cách thực chất, trở thành nền tảng, động lực và khơi dậy khát vọng, thành tựu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) trong kỷ nguyên vươn mình, cần lộ trình hành động rõ ràng và quyết tâm cao độ. 

Phát triển kinh tế tư nhân - Khát vọng "hoá Gióng" - Bài 3: Cơ hội vàng để kinh tế tư nhân cất cánh

Những nội dung mang tính đột phá của Nghị quyết 68 được kỳ vọng sẽ tạo cú huých lớn cho kinh tế tư nhân (KTTN) phát triển mạnh mẽ. Sự đồng hành, hỗ trợ và kiến tạo của Nhà nước sẽ là "chất xúc tác" để khu vực KTTN phát huy tối đa tiềm năng, bứt phá, đóng góp to lớn hơn vào sự thịnh vượng và phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.