Thứ bảy, 24-10-26 06:36:16
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dấu ấn những con tàu không số

Báo Cà Mau Tháng 4/2025, tỉnh Cà Mau tổ chức lễ đón nhận bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt cho Bến Vàm Lũng. Trong nghi thức thả thuyền và hoa tưởng niệm các liệt sĩ “tàu không số” hy sinh trên biển Cà Mau, có 2 người lính già khó nhọc dìu nhau lên tàu tham dự. Họ muốn được ra biển khơi, muốn thêm một lần sống lại tuổi đôi mươi khốc liệt mà đầy tự hào, muốn được gửi lòng mình vào những cánh hoa tưởng nhớ những đồng đội vì nhiệm vụ thiêng liêng mà hoà máu xương vào biển cả.

Những người góp phần làm nên huyền thoại

Ngày 23/10/1961, Ðoàn 759 được thành lập, đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào Nam bằng đường biển. Tiếp đó, Ðoàn 962 cũng ra đời, tổ chức các bến tiếp nhận hàng tại Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu; Vàm Lũng (Cà Mau) được chọn làm bến tiếp nhận chính.

Ðêm 11/10/1962, tàu gỗ Phương Ðông 1 do Chính trị viên Bông Văn Dĩa và Thuyền trưởng Lê Văn Một chỉ huy, cùng 11 thành viên, chở 30 tấn vũ khí rời bến Ðồ Sơn (Hải Phòng) lên đường đi Cà Mau. Vượt qua hành trình đầy thử thách, đêm 16/10/1962, tàu cập bến Vàm Lũng an toàn, chính thức khai mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại.

Anh hùng Bông Văn Dĩa là người con của quê hương Rạch Gốc, Cà Mau. Trong kháng chiến chống Pháp, ông nhiều lần vận chuyển vũ khí và đưa rước cán bộ, bộ đội ngược xuôi giữa Nam Bộ - Băng Cốc (Thái Lan) trên vùng biển Tây Nam, nhờ vậy có nhiều hiểu biết về biển cả, làm hành trang khi nhận nhiệm vụ mới trên tuyến vận tải đặc biệt này.

Hoạt động vận chuyển đang thuận lợi thì tháng 2/1965, Tàu 143 bị lộ tại Vũng Rô. Ðịch tăng cường phong toả, kiểm soát gắt gao vùng biển ven bờ và ngoài khơi, khiến việc vận chuyển phải tạm ngưng, trong khi nhu cầu vũ khí cho chiến trường vẫn vô cùng cấp bách.

Phương thức vận chuyển mới được triển khai. Thay vì đi trên biển Việt Nam, tàu cải dạng thành tàu buôn hoặc tàu đánh cá nước ngoài, đi trên vùng biển quốc tế, lựa thời cơ nhanh chóng tiếp cận vùng biển Việt Nam và cập bến.

Ðêm 15/10/1965, Tàu 42 do Nguyễn Văn Cứng làm Thuyền trưởng và Trần Ngọc Ẩn làm Chính trị viên, cùng 16 thành viên, chở 40 tấn vũ khí xuất phát theo hải trình mới. Trên đường đi, tàu thường xuyên bị máy bay và tàu chiến địch theo dõi, phải nhiều lần thay đổi hướng đi, mấy bận vào gần bờ, lại phải trở ra vùng biển quốc tế. Dẫu vậy, đêm 24/10/1965, tàu vẫn cập bến Vàm Lũng an toàn.

Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng cũng là người con quê hương Rạch Gốc, Cà Mau. Ông nhiều lần chỉ huy tàu vào bến thành công. Riêng chuyến đi này, không chỉ đưa khối lượng vũ khí quan trọng đến chiến trường mà còn góp phần đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cho phương thức vận chuyển mới, giúp tuyến đường tiếp tục hoạt động trước sự phong toả ngày càng gắt gao của địch.

Sau năm Mậu Thân 1968 đến năm 1971, tình hình trên biển vô cùng căng thẳng, các chuyến vận chuyển vũ khí hầu hết không vào được bến, phải quay về. Thế là phương thức vận chuyển mới được triển khai: sử dụng tàu 2 đáy nguỵ trang thành tàu đánh cá hoặc tàu hàng; bên trên để ngư lưới cụ hay hàng hoá, bên dưới chở vũ khí, dùng giấy tờ giả để hoạt động công khai.

Cha đẻ của sáng kiến này là ông Phan Văn Nhờ (Tư Mau), cũng là người con của quê hương Cà Mau (Giá Rai, Bạc Liêu cũ). Ông còn sắm vai nhà tư sản, mở công ty tại Sài Gòn, xưởng đóng tàu nhiều nơi, tạo thuận lợi cho hoạt động bí mật.

Hoạt động thả thuyền, hoa tưởng niệm liệt sĩ hy sinh trên biển Cà Mau của lãnh đạo tỉnh Cà Mau và các đại biểu.

Khúc tráng ca trên biển

Những người lính của đoàn tàu không số khi ra đi đều nằm lòng mệnh lệnh: bằng mọi giá phải bảo vệ tuyệt mật tuyến đường; khi tình thế nguy cấp, phải phá huỷ tàu, không để vũ khí và tài liệu rơi vào tay địch. Bởi thế, mỗi chuyến ra khơi đều là một hành trình sinh tử. Nhưng họ không chùn bước, bởi phía trước là yêu cầu cấp bách của chiến trường, là nhiệm vụ thiêng liêng và khát vọng về ngày hoà bình, thống nhất đất nước.

Trên vùng biển Cà Mau, những câu chuyện về Tàu 69, Tàu 100, Tàu 165 và Tàu 69B cho thấy tinh thần chiến đấu ngoan cường, lòng quả cảm, cùng những mất mát không gì bù đắp được.

Tàu 69 do Nguyễn Hữu Phước làm Thuyền trưởng, Tăng Văn Huyễn làm Chính trị viên, cùng 14 thuỷ thủ, chở hơn 60 tấn vũ khí vào bến Vàm Lũng ngày 24/4/1966. Sau khi giao hàng, tàu bị hỏng chân vịt phải ở lại sửa chữa. Ðêm 31/12/1966, khi tàu rời bến, bị nhiều tàu chiến và máy bay địch phát hiện, bao vây, tấn công.

Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Thuỷ thủ trưởng Ðoàn Văn Dĩ trúng đạn hy sinh, nhiều người bị thương. Báo vụ Phan Hải Hồ bị thương nặng ở chân, yêu cầu đồng đội cắt bỏ phần bị thương để tiếp tục chiến đấu. Sau nhiều giờ quần thảo trên biển, tận dụng đêm tối và sự hỗ trợ của lực lượng trên bờ, Tàu 69 thoát khỏi vòng vây, trở về bến Vàm Lũng với hơn 100 vết đạn.

Tàu 100 do ông Lê Minh Sơn làm Thuyền trưởng, ông Nguyễn Hữu Tương làm Chính trị viên, cùng 14 thành viên, cũng đối mặt với tình thế hiểm nghèo khi vào vùng biển Cà Mau rạng sáng 10/5/1966. Bị tàu địch phát hiện và bám đuổi, tàu vẫn tìm cách tiến vào cửa Rạch Già. Do nước ròng, tàu mắc cạn; địch huy động thêm lực lượng bao vây, tìm cách chiếm tàu và bắt sống thuỷ thủ. Nỗ lực phá huỷ tàu không thành, nhưng các thuỷ thủ đã thu gom, bảo toàn tài liệu bí mật khi rời tàu, đồng thời phối hợp với lực lượng bến chiến đấu chống trả quyết liệt, quyết không để tàu rơi vào tay địch. Cuối cùng, tàu bị cháy, vũ khí bị phá huỷ.

Ðau thương nhất là sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Tàu 165. Tàu do Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và Chính trị viên Nguyễn Văn Lương chỉ huy, cùng 16 thành viên, rời bến ngày 25/2/1968. Ðêm 29/2 rạng sáng 1/3/1968, tàu đến vùng biển Cà Mau và chạm trán địch. Trong tình thế giữa biển khơi, biết không chống trả nổi, để bảo vệ bí mật tuyến đường, các bến bãi và không để tàu rơi vào tay địch, chỉ huy cùng thuỷ thủ quyết định cho nổ phá huỷ tàu. Toàn bộ 18 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, mãi mãi nằm lại giữa biển khơi.

3 năm sau, Tàu 69B do Phan Xã làm Thuyền trưởng, Ðào Thảnh Thơi làm Chính trị viên, cùng 21 thuỷ thủ, chở 60 tấn vũ khí vào Cà Mau, cũng rơi vào trận chiến sinh tử. Ðêm 12/4/1971, khi cách bờ khoảng 40 hải lý, tàu bị nhiều tàu tuần duyên địch bao vây, tấn công. Các chiến sĩ kiên cường đánh trả, tìm cách đưa tàu về phía bờ. Khi tàu bị hư hại, khoang lái ngập nước và một số đồng đội bị thương, thuyền trưởng ra lệnh huỷ tàu. Nhiều thuỷ thủ bị thương bơi được vào bờ. Thuyền trưởng Phan Xã hy sinh khi vào bờ, 1 thuỷ thủ mất tích trên biển.

Tâm nguyện chưa thành

2 người lính già đi thả hoa trên biển hôm ấy là cựu chiến binh Bùi Hằng Lâm (người từng đi trên Tàu 69B) và cựu chiến binh Ðỗ Xuân Ðán (người từng đi trên Tàu 100). Các ông cho rằng mình còn sống là điều may mắn, nhưng nghĩ về những đồng đội xương cốt đã nằm lại giữa biển khơi, vẫn cứ day dứt trong lòng.

Ðại tá, cựu chiến binh Khưu Ngọc Bảy (Trung đoàn trưởng Ðoàn 962, năm 1977-1978) cũng mang nỗi niềm như thế. Ông có mặt tại bến Cà Mau từ những năm đầu mở bến nên nắm rõ hành trình của các chuyến tàu, trận chiến và mất mát, hy sinh của những người lính tàu và người trên bến. Nhiều năm qua, ngoài thu thập tài liệu hoàn thành lịch sử Ðoàn 962, ông còn làm rất nhiều việc cho đồng đội. Ở tuổi ngoài 80, ông vẫn đau đáu tâm nguyện chưa thành. Ðó là xây dựng mộ gió và bia cho 18 liệt sĩ Tàu 165, để hương hồn những người anh hùng ấy có nơi trở về, để người thân, đồng đội và Nhân dân có chỗ thắp hương, để thế hệ sau còn nhắc nhớ. Ðây cũng là mong mỏi chung của các cựu chiến binh tàu không số.

Các cựu chiến binh Đoàn 962 và tàu không số chụp ảnh lưu niệm tại Tượng đài Bến Vàm Lũng.

18 người, 18 cuộc đời, họ mang cả tuổi xuân cùng bao hoài bão, ước mơ vào dập dềnh mênh mông biển cả. Một ngôi mộ gió, tấm bia tưởng niệm để người ra đi có chỗ quay về. Mong ước ấy nghe giản dị mà chứa đựng biết bao tình nghĩa. Ðó không chỉ là nơi tưởng nhớ người đã khuất mà còn là cách gìn giữ ký ức lịch sử, nhắc các thế hệ mai sau về cái giá của hoà bình.

Mới đây, ông Khưu Ngọc Bảy phấn khởi chia sẻ rằng, Bến Vàm Lũng đã được công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt và sắp tới sẽ được đầu tư trùng tu tương xứng. Vì thế, ông hy vọng tâm nguyện bấy lâu của mình sẽ thành hiện thực.

Trang Thăm

“Hoa lửa” trên đường 1C huyền thoại

Ra đời trong phong trào "5 xung phong" chống Mỹ cứu nước, ngày 13/5/1966, Ðại đội Nguyễn Việt Khái 1 hành quân về R. Các đại đội Nguyễn Việt Khái 2 và 3 cũng lên đường nhận nhiệm vụ ở tuyến vận tải 1C trong đội hình Liên đội 1 Thanh niên xung phong (TNXP) Tây Nam Bộ vào giữa năm 1967. Sau đó, các đại đội Quyết thắng 1, 2 và 3 hoạt động theo phương thức hợp - tan ở địa bàn Cái Lớn - Ba Ðình nối tuyến 1C về Cà Mau.

Ðêm tháng Mười

Giữa năm 1959, cách mạng miền Nam nói chung, địa bàn huyện Ngọc Hiển nói riêng, phải đương đầu với những khó khăn chồng chất. Luật 10/59 của chính quyền Ngô Ðình Diệm do Mỹ dựng lên đã tổ chức các chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", tiến hành càn quét, đánh phá liên miên; bọn tề điệp, ác ôn ngóc đầu dậy, nhất là tổ chức tự vệ hương thôn, trước họng súng và trong cửa nhà tù của chúng, những người dân lương thiện, bất cứ ai cũng đều có thể bị chúng quy là Việt cộng.

Lần đầu xem chiếu bóng

Một chiều đầu tháng 10/1966, được tin Ðội chiếu bóng Cà Mau - Ninh Bình thực hiện buổi chiếu đầu tiên ở Vịnh Dừa, cách cơ quan chúng tôi hơn 2 cây số, ai nấy đều háo hức. Bởi, chúng tôi đều sinh ra và lớn lên ở nông thôn, không ai biết chiếu bóng là gì. Còn bởi phim ảnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn của miền Nam, tất cả vì miền Nam ruột thịt.

Nhớ thương đồng đội

Năm 1978, cựu chiến binh Nguyễn Ngọc Như, ấp Láng Giài, xã Hoà Bình, khi ấy đang độ tuổi đôi mươi, thực hiện nhiệm vụ tại Sư đoàn 4 (Quân khu 9) chiến đấu trên chiến trường biên giới Tây Nam. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng chiến đấu vẫn vẹn nguyên trong tâm trí. “Ðồng đội tôi năm đó được 35 người, giữa chiến trường ác liệt, nhiều người đã ngã xuống ngay trên tay tôi. Ðến nay, đồng đội tôi chỉ còn lại 3 người”, bà Như rơm rớm nước mắt.

Lắng nghe lịch sử giữa trùng khơi

Hành trình “Biển đảo quê hương” với chủ đề “Theo dấu chân anh hùng - Tuổi trẻ sắt son niềm tin với Ðảng” của Tuổi trẻ tỉnh Cà Mau vừa qua đưa đoàn viên, thanh niên (ÐVTN) đến với Côn Ðảo (Thành phố Hồ Chí Minh), nơi mỗi phần mộ, mỗi câu chuyện đều gắn với những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc.

“Buổi phát thanh gởi về Nam”

Tháng 8/1959, cách mạng miền Nam chịu tổn thất nặng nề do Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo, bắn giết, bắt tù đày tất thảy những người chúng cho là "Việt cộng". Nghị quyết 15 của Trung ương nhằm chuyển hướng chiến lược của cách mạng miền Nam còn trong giai đoạn triển khai...

Phát huy khí thế thành đồng Tổ quốc trong kỷ nguyên mới

Tự hào với danh hiệu "Thành đồng Tổ quốc" trong sự nghiệp bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ cách đây 81 năm, Nam Bộ nói chung, Cà Mau nói riêng hôm nay đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân Cà Mau quyết tâm hoàn thiện hạ tầng chiến lược, vận hành bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Ðồng chí Phạm Hữu Lầu - Trọn đời phụng sự Tổ quốc

Phía trước cổng chính Trường Ðại học Ðồng Tháp (phường Cao Lãnh) là con đường thoáng rộng, rợp bóng cây xanh mang tên Phạm Hữu Lầu (1906-1959), người con xuất chúng của quê hương đất Sen Hồng, nguyên Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Với hơn 30 năm tham gia cách mạng, đồng chí đã có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng, nhất là trong công tác xây dựng Ðảng và phong trào đấu tranh tại Nam Bộ.

Mẹ Thứ - Tượng đài vĩnh hằng

Có những nơi chỉ cần đứng yên trước khung cảnh ấy cũng đủ khiến lòng người rưng rưng. Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, phường Quảng Phú, TP Ðà Nẵng), một ngày nắng đẹp mây vờn quanh trên bầu trời xanh thẳm, bóng Tượng đài Mẹ Thứ hiên ngang giữa trời như vòng tay dang rộng ôm lấy cả đất lẫn trời.

Trên quê hương anh hùng

Ấp Mỹ Trinh (xã Vĩnh Thanh) từng là căn cứ cách mạng, nơi quân và dân trải qua những năm tháng chiến tranh ác liệt với nhiều mất mát, hy sinh. Giờ đây, trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương ấy, những con đường mới, nhà cửa khang trang, các mô hình sản xuất hiệu quả đã và đang tạo nên diện mạo mới cho miền quê bình yên, trù phú và giàu sức sống.