Thứ năm, 21-5-26 10:48:09
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ký ức một thời “cô đỡ” đất Tân Ân

Báo Cà Mau Với gương mặt phúc hậu, dáng dấp khoan thai, lời nói nhẹ nhàng, nếu không nghe được câu chuyện về cô khó ai hình dung người phụ nữ này đã từng vào sinh ra tử, cống hiến hết mình với lòng quả cảm của người chiến sĩ và sức chịu đựng, hy sinh to lớn của người mẹ, người vợ.

Với gương mặt phúc hậu, dáng dấp khoan thai, lời nói nhẹ nhàng, nếu không nghe được câu chuyện về cô khó ai hình dung người phụ nữ này đã từng vào sinh ra tử, cống hiến hết mình với lòng quả cảm của người chiến sĩ và sức chịu đựng, hy sinh to lớn của người mẹ, người vợ.

Cô là Dư Thị Phiến (Tư Phiến), sinh năm 1931 ở Ấp Thủ, xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển. Cô sớm giác ngộ bởi quê hương cô có truyền thống cách mạng, cả gia tộc đều tham gia kháng chiến, 15 tuổi cô công tác thiếu nhi rồi cán bộ Xã đoàn. Thời điểm chuẩn bị Ðồng Khởi giặc bủa vây, bắn phá vùng giải phóng, cô Tư Phiến lúc đó đảm nhiệm công tác phụ nữ xã. Mới ở tuổi đôi mươi, cô tham gia nhiều cuộc đấu tranh trực diện ở các chi khu, đồn bót giặc ở huyện Năm Căn và vùng lân cận. Sau Ðồng Khởi, lực lựơng vũ trang ra đời, vai trò của cán bộ phụ vận càng quan trọng và rất nặng nề.

Vợ chồng bà Tư Phiến đang sống an nhàn cùng con cháu tại Phường 9, TP Cà Mau.  Ảnh: KHÁNH PHƯƠNG

Do yêu cầu cấp bách của điạ phương cần đào tạo cán bộ hộ sinh và y tá, cô được tổ chức đưa đi học lớp hộ sinh. Năm 1965, cô được điều về Văn phòng Huyện uỷ Duyên Hải, đến năm 1966 về cơ quan dân y huyện, nơi đây công việc rất đa đoan bởi ngoài bảo vệ sức khoẻ cho cán bộ Huyện uỷ, cô còn đảm trách y tế cho cán bộ trại giam và cả tù nhân.

Lúc này cô đã có 2 con, chồng là ông Ðặng Công Thường, cán bộ ngành quân giới, công tác xa, ít khi được gặp nhau. Lần về phép hiếm hoi, vợ chồng về thăm quê nhưng rủi ro thay chuyến đi ấy bị biệt kích phát hiện, chúng xả súng vào 2 vợ chồng và các con trên chiếc xuồng ba lá. Những loạt đạn oan nghiệt đã cướp đi mạng sống của đứa con trai 15 tháng tuổi, chồng cô bị thương nặng, cô may mắn thoát chết.

Khi bọn biệt kích rút đi, chồng cô được anh em du kích xã Năm Căn đưa vô quân y huyện Duyên Hải điều trị vết thương. Sáng hôm sau, bà con ở xã Hàm Rồng chèo xuồng ra chợ Cái Keo, thấy thi thể một đứa trẻ nổi lờ đờ ở kinh xáng Cái Ngay, biết con cô bị biệt kích bắn chết nên dùng dây buộc cháu bé vô gốc cây ven sông rồi ra chợ mua cao su đem về chôn cất giùm.

Một lần khác, cô mới sinh hơn 1 tháng nhưng phải đi công tác, đứa nhỏ gởi ở cơ quan, cô chở theo đứa con 2 tuổi cùng các đồng chí khác đi từ cơ quan dân y về trại giam của huyện. Trên xuồng chở tài liệu, vũ khí, thuốc men… Không ngờ bọn biệt kích đã ém quân sẵn, xuồng đến Kinh 17, xã Tam Giang, bọn biệt kích xả súng vào 2 chiếc xuồng. Khi người chèo xuồng trúng đạn, xuồng tròng trành giữa dòng nước chảy xiết. Người đồng đội là anh Ba Hoà đã bơi được gần tới bờ, nhìn thấy 2 mẹ con cô giữa sông, anh quyết định trở ra để cứu giúp.

Lúc đó Ba Hoà có thể chết ngay khi bọn biệt kích quay lại, nhưng tình đồng chí và lòng nhân ái anh quyết  đưa được 2 mẹ con vào bờ. Trong lúc nguy kịch nhưng tài liệu, vũ khí được bảo vệ an toàn. Trận này, một chiến sĩ cùng đi với cô hy sinh. Ba Hoà đưa 2 mẹ con vô bờ rồi tìm đường về cơ quan báo tin để được hỗ trợ.

Nhưng bọn biệt kích tiếp tục truy lùng, cô đi sâu vô rừng và bị mất phương hướng. Không cơm ăn, không nước uống, 2 mẹ con đói lả, không còn sức lực. Cô cố lần đến những căn chòi bỏ trống để xem còn vật gì có thể ăn đỡ lòng. Nghe đứa con gái vừa nói bập bẹ: “Má ơi con khát quá!” mà cô đứt từng đoạn ruột. Không còn cách nào, cô rót nước trong mấy cái chén bể quanh chòi để cho con gái đỡ khát. Bé bảo: "Má ơi nước mặn và hôi quá!". Những tiếng thỏ thẻ thắt lòng hơn 50 năm rồi cô còn nghe văng vẳng...

Do sinh non ngày tháng phải dầm nước, lội rừng nên cô bị băng huyết, con gái bị uống nược mặn nên tiêu chảy rất nguy kịch. Mấy ngày sau, nhờ đồng đội tìm gặp ứng cứu kịp thời nên 2 mẹ con đã vượt qua nguy hiểm. Thời điểm này, chồng cô đang thực hiện chiến dịch chống bình định ở huyện Thới Bình nên một thân một mình chống chọi với biết bao bất trắc nhưng không hề nao núng, không sợ hy sinh. Chưa bình phục cô đã quyết lòng trở về đơn vị để tiếp tục nhiệm vụ.

Sau đó, theo yêu cầu, tổ chức luân chuyển cô nhiều đơn vị khác. Ðến đâu cô cũng hết lòng hết sức phục vụ bệnh nhân, vừa cứu thương, vừa điều trị bệnh và hộ sinh. Hàng trăm đứa trẻ ra đời do bàn tay cô mụ Tư Phiến hết lòng nâng niu, giúp đỡ đều “mẹ tròn con vuông”. Cô không nhớ hết bao nhiều lần bị giặc ruồng bố, bỏ bom, biệt kích…, cái chết cận kề nhưng vẫn bảo vệ thương binh, chu toàn với sản phụ, cất giữ tài liệu, bảo vệ tài sản của Nhà nước chu đáo. Mặc cho hiểm nguy, vất vả, cô luôn làm tốt nhiệm vụ của một người đảng viên kiên trung, người thầy thuốc, người đồng đội hết lòng vì anh em, đồng chí. Bà con vùng căn cứ không thể nào quên sự tận tuỵ của người thầy thuốc, của bà mụ dịu hiền Tư Phiến, tình cảm đó còn giữ đến bây giờ.

Có những lúc tình hình chiến sự gay go, cô phải đem con gởi mỗi đứa một nơi để làm nhiệm vụ. Vợ chồng thành hôn đã 10 năm nhưng thời gian được ở bên nhau cộng chung chưa đến 90 ngày. Dù xa mặt nhưng không cách lòng, 2 người vẫn nỗ lực cống hiến cho cách mạng và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Sau giải phóng, gia đình chưa được đoàn tụ vì phải tiếp tục nhiệm vụ mới. Cô chuyển về huyện Thới Bình làm trạm trưởng hộ sinh của một xã, chồng cô sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế, là Phó Chủ nhiệm hậu cần tiền phương giữ cấp hàm đại uý. Thời điểm đó kinh tế hết sức khó khăn, trạm y tế không có lương chỉ là phụ cấp, mấy mẹ con lại vất vả mưu sinh. Cô vừa làm nhiệm vụ tại trạm, vừa phục vụ sản phụ quanh vùng. Những lần gặp ca đẻ khó, cô thức trắng để chăm sóc. Con còn nhỏ, nhà không có ai chăm, cô phải mang con theo nên con cô cũng chịu cảnh vất vả. Về sau, cô chuyển về công tác ở Trạm Y tế Phường 5, thị xã Cà Mau cho đến hết tuổi lao động.

 Cô công tác liên tục từ năm 15 tuổi, không quản ngại gian khổ, hy sinh, đối mặt với biết bao hiểm nguy vẫn không sờn lòng, nhưng hiện cô không được hưởng chế độ hưu trí do thời gian công tác ở trạm y tế xã tại huyện Thới Bình không được tính để hưởng chính sách. Biết là quá thiệt thòi nhưng cô không than phiền, oán trách, xem như mình đã làm tròn trách nhiệm công dân, cống hiến máu xương để giành tự do, độc lập hôm nay. Vợ chồng cô nuôi dạy các con nên người, hiện tham gia công tác ở một số ngành trong tỉnh. Ðối với bà con láng giềng, cô luôn chan hoà tình nghĩa, gia đình cô Tư Phiến rất tiêu biểu về nề nếp, lối sống văn hoá, được mọi người kính trọng. Tuổi cao sức yếu nhưng cô vẫn là chỗ dựa vững chắc cho con cháu, là nơi hội tụ niềm tin yêu của bạn bè, đồng chí thân thương./.

Ngọc Diễm

Tấm lòng người dân Cà Mau với Bác Hồ

Những ngày tháng 5, khi cả nước hướng về kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi tìm về xã Châu Thới thăm Ðền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðây không chỉ là Di tích Lịch sử - Văn hoá quốc gia mà còn là biểu tượng của lòng trung kiên và tình cảm son sắt mà người dân địa đầu cực Nam Tổ quốc dành cho vị lãnh tụ kính yêu.

Lung Máng Diệc - Vết thương và sự tri ân

Những ngày tháng 4, cả nước rộn ràng không khí hướng về kỷ niệm 51 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) với niềm xúc động lẫn tự hào. Nhưng giữa niềm tự hào chung của dân tộc, ở Lung Máng Diệc vẫn còn khoảng lặng của mất mát, nhắc nhớ rằng phía sau hoà bình, độc lập là những hy sinh không thể nào quên.

Tự hào tiếp nối truyền thống

Trong những ngày tháng Tư lịch sử, hành trình trở về với cội nguồn đang được người trẻ lan toả mạnh mẽ. Lịch sử không còn là những trang sách khô khan mà hiện hữu qua từng ký ức, tái hiện qua từng “địa chỉ đỏ” và truyền đi thông điệp: phải biết trân trọng, gìn giữ và tiếp nối truyền thống dân tộc.

80 năm Trận Giồng Bốm - Vọng mãi khúc tráng ca

Sáng 30/4, tại Di tích Lịch sử quốc gia Địa điểm trận Giồng Bốm (xã Phong Thạnh), UBND tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (15/4/1946-15/4/2026).

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Trọn nghĩa tri ân

Thời gian qua, công tác “đền ơn đáp nghĩa” tại xã Hưng Mỹ luôn được quan tâm thực hiện, thông qua những việc làm thiết thực và giàu tính nhân văn. Từ những phần quà tri ân, những mái nhà tình nghĩa đến sự sẻ chia trong đời sống hàng ngày, tất cả góp phần chăm lo tốt hơn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, tô thắm đạo lý "uống nước nhớ nguồn" trong cộng đồng.

Sức sống cách mạng qua những địa danh anh dũng

Ði qua những năm tháng đạn bom, cùng với xương máu, hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ, những địa danh như: Chống Mỹ, Anh Dũng, Quyết Chiến, Quyết Thắng... đã gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nửa thế kỷ thống nhất, những tên gọi này vẫn vang vọng hào khí cha ông, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Người lưu giữ lịch sử

Với nhiều người dân Cà Mau, ông Sáu Sơn là gương mặt quen thuộc, như “người kể chuyện lịch sử” - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Kể chuyện lịch sử tại Bảo tàng tỉnh Cà Mau. Ông đã dành nhiều năm cuộc đời để truyền lửa đam mê lịch sử cho thế hệ trẻ.

Giồng Bốm - 80 năm vọng mãi hào khí kháng chiến

"Ai qua Giồng Bốm hôm nay/ Nhớ ngày khởi nghĩa chống Tây hôm nào". Cách nay 80 năm trận Giồng Bốm ghi dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đấu tranh chống Pháp của Nhân dân vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Sự hy sinh của những nghĩa quân “áo trắng” là biểu tượng bất diệt cho tinh thần "đạo không rời đời, dân không rời nước", để lại niềm xúc động và sự tri ân sâu sắc trong lòng hậu thế. Trong tiến trình phát triển, di tích Giồng Bốm đã trở thành bảo tàng tinh thần lưu giữ những giá trị vô giá cho thế hệ mai sau.

Hào hùng chiến thắng Ðất Cháy

Tháng 4/1971, trong cái nắng như đổ lửa, cánh đồng Ðất Cháy (xã Phong Lạc cũ, nay là Xã Trần Văn Thời) ngả màu vàng sậm, những gốc rạ trơ đen, mương phèn khô nứt nẻ; bờ chuối, hàng tràm sau hậu đất lá khô rủ xuống, vàng hoe.