Thứ tư, 17-6-26 22:20:53
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nơi phù sa thiếu ngọt - Bài cuối: Trách nhiệm trong sử dụng nguồn nước

Báo Cà Mau (CMO) "Việc tiếp nước ngọt về cho tỉnh Cà Mau, không chỉ là khát vọng của nền nông nghiệp mà là của cộng đồng dân cư vùng đất này", ông Nguyễn Long Hoai, Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi (Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau), chia sẻ. Theo ông Hoai, đưa nước ngọt về Cà Mau được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của tỉnh.

Phải thoả mãn 2 điều kiện

Dự án thuỷ lợi Cái Lớn - Cái Bé đã hoàn thành giai đoạn 1, cũng đã vận hành cho vụ mùa sản xuất nông nghiệp 2021-2022. Đánh giá bước đầu của các tỉnh cho rằng khi vận hành công trình, đã có sự đóng góp đáng kể cho sản xuất nông nghiệp hiệu quả, nhất là trong chủ động được nguồn nước trước áp lực ngày càng gia tăng của xâm nhập mặn, khô hạn.

Hệ thống công trình thuỷ lợi Cái Lớn - Cái Bé (Kiên Giang) góp phần điều tiết, chủ động nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp các tỉnh vùng bán đảo Cà Mau, trong đó có mục tiêu dẫn ngọt về vùng Bắc Cà Mau qua hệ thống kênh Chắc Băng.

“Giai đoạn 2 của dự án, ngoài khởi động lại âu thuyền Tắc Thủ ở Cà Mau, cùng với đó là nâng cấp và xây dựng mới một số tuyến cống Bắc Quốc lộ 1 thuộc vùng dự án trên địa bàn 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu. Khi hoàn thiện các giai đoạn, sẽ phục vụ sản xuất nông nghiệp 5 tỉnh khu vực Nam Sông Hậu, gồm Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau, Hậu Giang”, ông Hoai thông tin.

Theo ông Hoai, để nền sản xuất nông nghiệp Cà Mau phát triển bền vững từ việc dẫn ngọt, ít nhất phải thoả mãn 2 điều kiện. Thứ nhất, Bộ NN&PTNT chủ trì, chỉ đạo cho các đơn vị trực thuộc, các địa phương trong vùng dự án thực hiện đúng theo mục tiêu ban đầu của dự án. Thứ 2, phải có sự chia sẻ, phối kết hợp giữa các tỉnh trong vùng dự án, dưới sự chủ trì của Bộ NN&PTNT, để chủ động vận hành hệ thống công trình, phục vụ sản xuất, đặc biệt là Kiên Giang với dự án thuỷ lợi Cái Lớn - Cái Bé và Bạc Liêu với dự án Quản lộ Phụng Hiệp một cách hài hoà, vì lợi ích chung.

Ông Hoai phân tích, có được 2 điều kiện cần và đủ như trên, khi mà chưa thể bơm nước ngọt về cho Cà Mau thì ít nhất địa phương cũng giữ ngọt tại chỗ trên các tuyến kênh sẵn có, góp phần làm chậm mặn, phục vụ sản xuất 1 vụ lúa trên đất nuôi tôm. Thêm nữa là góp phần pha loãng, làm giảm độ mặn phục vụ sản xuất phần diện tích đất chuyên lúa phần còn lại ở Thới Bình, U Minh và một phần TP Cà Mau. Với việc đưa ngọt từ sông Hậu về Cà Mau thông  qua hệ thống trạm bơm, việc tiếp ngọt sẽ thực hiện vào thời điểm cuối tháng 12 năm trước, đầu tháng 1 năm sau cho vùng U Minh Hạ, nghĩa là Tiểu vùng 2 và 3 Bắc Cà Mau trên địa bàn huyện U Minh và Trần Văn Thời với diện tích là 90.000 ha (lúa 2 vụ). Chủ yếu bơm nước ngọt vào hệ thống kênh, rạch, bởi khi sản xuất vụ 2, nguồn nước mưa trên các tuyến kênh đã vơi dần. Nếu như tiếp ngọt lần 1 này sẽ giải quyết nguồn nước cho mùa khô, thì việc tiếp nước lần 2 diễn ra từ tháng tháng 3 và 4 (nếu được, vì đây là thời điểm nước trên Sông Tiền, Sông Hậu giảm đáng kể), khi đó Cà Mau sẽ chủ động, khắc phục được hạn hán, kể cả những thời điểm lịch sử như đã từng xảy ra. Việc chuyển nước về cho Cà Mau không những giúp pha loãng độ mặn (có thời điểm lên đến 40 phần ngàn trên đồng ruộng, cây lúa và con tôm không thể sống nổi), mà còn để phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng tràm U Minh Hạ vào mùa khô.

Huyện Thới Bình xây dựng hệ thống trạm bơm, cung cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng nông thôn

Từ tầm nhìn cho việc quy hoạch thuỷ lợi phục vụ sản xuất, Cà Mau vẫn giữ 2 vùng sản xuất Nam và Bắc, nhưng từ 23 tiểu vùng được điều chỉnh lên 33 tiểu vùng với tầm nhìn đến năm 2030, có xét đến năm 2050. Trong đó, Nam Cà Mau là 27 tiểu vùng và Bắc Cà Mau là 6 tiểu vùng. Đáng chú ý là hình thành thêm tiểu vùng Quản lộ Phụng Hiệp thuộc Bắc Cà Mau để sản xuất thích ứng hệ thống thuỷ lợi đã và đang tiếp tục đầu tư mang tính liên vùng, từ Bạc Liêu, Kiên Giang. Điều đặc biệt cho Cà Mau, sản xuất nông nghiệp sẽ dựa trên 3 hệ sinh thái: mặn, ngọt, lợ. Đây là bài toán khó, nhưng nếu đầu tư hoàn thiện hạ tầng thuỷ lợi, vận hành hợp lý sẽ mang đến nền nông nghiệp đa dạng, phong phú, phát triển một cách hài hoà.

Mong sớm triển khai để hoàn thiện dự án thuỷ lợi

PGS.TS Lê Anh Tuấn, Khoa Môi trường - Tài nguyên và Thiên nhiên (Trường Đại học Cần Thơ), khẳng định, với hệ sinh thái sản xuất cây lúa, con tôm là mô hình canh tác thuận thiên, có sự kiểm soát của con người, phù hợp với phát triển bền vững đối với các tỉnh ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang. Nếu so với vụ lúa đơn thuần thì hình thái sản xuất này, tuỳ vùng mà năng suất cao từ 5-7 lần.

Từ nhận định này, trở lại câu chuyện của những người trồng lúa, nuôi tôm ở ấp Phủ Thờ, xã Trí Lực, huyện Thới Bình trúng “bể tay”, xây cất nhà khang trang. Gặp anh Đặng Thái Nguyên, nói như khoe: “Vùng này ngoài nuôi tôm theo vụ lúa, giờ làm thêm trái vụ tôm càng xanh, nhưng không ngờ làm chơi ăn thiệt, vừa đạt năng suất vừa được giá, xứ này ai cũng mừng”.

Theo anh Nguyên, mùa hạn, độ mặn thường dao động từ 10-20 phần ngàn, những năm qua, nhiều người âu lo không dám sản xuất gì. Năm nay chần chừ lắm mới dám làm thêm vụ tôm trái mùa. “Nói như mấy chú nhà báo, khi mà tới đây nước ngọt về sẽ giảm độ mặn vào mùa hạn, bà con vùng này chắc sẽ phấn khởi khởi lắm, yên tâm sản xuất quanh năm với những vụ mùa ăn chắc, cuộc sống sẽ khấm khá hơn là điều có thể nhìn thấy trước”, mắt anh Nguyên sáng lên, giọng cười tươi rói.

“Diện tích lúa - tôm ngày càng lan rộng ra các tỉnh, chứng tỏ đây là hình thức sản xuất thuận lòng dân, phù hợp với điều kiện tự nhiên, thực tế của xã hội, vấn đề còn lại là chúng ta phải làm gì để phương thức canh tác ngày càng tiến bộ, bền vững và hiệu quả hơn”, PGS.TS Lê Anh Tuấn chia sẻ.

Cà Mau đang thi công công trình hồ chứa nước ngọt tại xã Khánh An, huyện U Minh với có diện tích 102 ha, dung tích thiết kế là 3,85 triệu m3 nước. Ảnh: Huỳnh Lâm

Theo ông Tuấn, việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi nhằm ứng phó triều cường hay dẫn ngọt về để chủ động nguồn nước cho các hình thái sản xuất phát triển, dù có nhiều tốn kém và khó khăn, nhưng đó cũng chỉ mới là điều kiện cần ban đầu, cần đẩy mạnh hơn nữa trong chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng cây và con giống, hỗ trợ nguồn vốn, tìm đầu ra, nhất là liên kết sản xuất mang tính quy mô vùng. “Thời buổi kinh tế thị trường phát triển sâu rộng, liên kết vùng trong cả quá trình sản xuất nông nghiệp là nhu cầu tất yếu, và việc dẫn ngọt về cho vùng đất khát như Cà Mau hay bán đảo Cà Mau là một thực tế, đó là sự chia sẻ hài hoà, trách nhiệm trong sử dụng nguồn nước để phát triển”, ông Tuấn khẳng định.

Không gian phát triển sinh thái vùng ĐBSCL đã được thể hiện khá rõ trong quy hoạch thuỷ lợi, quy hoạch vùng ĐBSCL, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm cơ sở cho các địa phương tổ chức lại quy hoạch, thích ứng biến đổi khí hậu. Ông Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, cho rằng, đã qua Chính phủ đã có nhiều ưu tiên cho ĐBSCL và chủ trương dẫn ngọt cho vùng bán đảo Cà Mau nói chung vốn đặc thù, thật sự là tin vui phát triển nông nghiệp của địa phương trong tương lai. Từ nhận thức đến tổ chức lại sản xuất đã có nhiều chuyển biến tích cực, trong thực hiện Nghị quyết số 120 của Chính phủ về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu, Cà Mau cùng với ĐBSCL đã có những thay đổi phù hợp, thích ứng có sự kiểm soát nên đã tạo ra những giá trị sản phẩm nông nghiệp cạnh tranh. Từ kết quả có được, tầm nhìn cho tương lai, vẫn rất cần có được cơ chế mang tính đặc thù nhằm tập trung và đẩy mạnh hơn nữa nguồn lực đầu tư mang tính liên kết vùng, nhất là trong kiểm soát và chủ động hơn về nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống Nhân dân, nhất là tại những địa phương ven biển. Kiến nghị cần có cơ chế đặc thù để tập trung và đẩy mạnh hơn nữa về nguồn lực đầu tư, nhất là trên lĩnh vực hạ tầng để phát triển kinh tế nông nghiệp.

Theo đó, ông Lê Văn Sử mong sớm triển khai các công trình thuộc phần còn lại để phát huy hiệu quả dự án Cái Lớn - Cái Bé, giúp vùng đất bán đảo Cà Mau nói chung và Cà Mau có được nền sản xuất hiệu quả, bền vững; khai thác lợi thế, phát triển xứng tầm với tiềm năng sẵn có./.

 

Trần Nguyên - Phong Phú - Văn Đum - Hoàng Diệu

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.