Thứ ba, 7-7-26 01:15:38
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung - người đam mê nghệ thuật cải lương nam bộ

Báo Cà Mau Từ năm 1961-1975, Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam có đến 23 cán bộ, soạn giả là văn nghệ sĩ hy sinh trên chiến trường miền Ðông Nam Bộ như Trần Hữu Trang, Nguyễn Ngọc Cung, Thanh Nha…

Khi UNESCO công nhận đờn ca tài tử là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, những ai am hiểu loại hình độc đáo này càng yêu quý Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung, người con của vùng đất cuối trời Tổ quốc, người có công lớn đối với nền nghệ thuật cải lương và đờn ca tài tử Nam Bộ.

Trọn đời vì cải lương

Ngày 8/2/1927, Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung ra đời trong căn nhà số 21, đường Trưng Trắc, Phường 2, TP Cà Mau. Từ khi còn đi học, ông đã say mê đờn ca tài tử. Theo Vũ Cao, vào một buổi chiều, Nguyễn Ngọc Cung cùng người bạn đi dạo trên đường La Grandière, Sài Gòn (nay là đường Lý Tự Trọng, TP Hồ Chí Minh). Ðang đi, Cung bỗng nhìn thấy đám đông đứng quanh một ông lão và một cháu gái mà Cung đoán là hai cha con. Người cha bị mù, ngồi trên manh chiếu rách, vừa đờn vừa ca một đoạn vọng cổ với cây độc huyền cầm. Cháu gái chừng 10 tuổi, tay đưa chiếc nón vải rách ra phía trước xin tiền. Cung lách đám đông chen vào. Ðến khi ông lão mù vừa ca xong bài vọng cổ, Cung ngồi xuống nói với ông lão: “Ông đờn để tôi ca tiếp cho, tôi cũng ca vọng cổ”.

Vở cải lương “Khúc oan vô lượng” năm 1931.                              Ảnh tư liệu

Tiếng độc huyền cầm tiếp tục nỉ non réo rắt. Ðám đông đang xôn xao bỗng im bặt khi Nguyễn Ngọc Cung cất lên những lời ca đầu tiên. Vừa dứt 6 câu, trong tiếng vỗ tay giòn giã. Cung bảo ông lão mù đờn tiếp cho mình ca một bản theo điệu xuân tình. Mặc cho đám đông càng lúc càng đông và mặc trong lòng chiếc nón vải đã đầy ắp những đồng 1 hào, 2 hào, Nguyễn Ngọc Cung khi ấy như chìm trong lời ca tiếng nhạc...

Năm 1945, Nguyễn Ngọc Cung tham gia cách mạng trong tổ chức Thanh niên Tiền phong tại thị trấn Cà Mau. Năm 1946, ông bị thực dân Pháp bắt giam cùng với thân sinh là ông Nguyễn Ðạo Ðức, nhưng do không có bằng chứng kết tội, chúng phải thả. Năm 1947, ông vào chiến khu công tác, được kết nạp vào Ðảng Lao động Việt Nam.

Năm 1950, cùng với việc chỉ trích cải lương ở miền Bắc, ở vùng giải phóng Nam Bộ có nơi ra lệnh cấm cải lương, đặc biệt không được sử dụng vọng cổ, vì cho rằng “yếu đuối sẽ làm mềm tinh thần chiến đấu”.

Trước tình hình cán bộ và Nhân dân mình “ghiền” vọng cổ quá, ông Thái Ðắc Hàng, nhà ở Phường 4, TP Cà Mau, sáng tác làn điệu “Nói thơ Bạc Liêu”, tương tự như vọng cổ nhưng cũng không đáp ứng nổi nguyện vọng tha thiết của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta lúc bấy giờ.

Cũng theo ông Vũ Cao, cuối năm 1951, Chi hội Văn nghệ Nam Bộ tổ chức hội nghị tranh luận về nghệ thuật cải lương. Nhiều ý kiến tại hội nghị trái ngược nhau nhưng cuối cùng cũng đi đến kết luận: “Cải lương vẫn có tác dụng phục vụ kháng chiến”, quyết nghị trong buổi liên hoan bế mạc sẽ diễn cải lương, mời các đồng chí lãnh đạo Ðảng và chính quyền cấp lãnh đạo Nam Bộ đến xem.

Anh em phân công Nguyễn Ngọc Cung viết một vở cải lương ngắn để biểu diễn. Ngay trong buổi sáng, ông viết xong vở “Nợ nước tình nhà”. Buổi biểu diễn rất thành công. Lúc kết thúc, các đồng chí lãnh đạo Ðảng và chính quyền Nam Bộ quyết định cho phục hồi hình thức ca cải lương để phục vụ kháng chiến. Từ đó, các đoàn cải lương tăng lên gấp bội. Chỉ trong thời gian ngắn, khu giải phóng tỉnh Bạc Liêu có tới 9 đoàn, Khu 7 có 6 đoàn…

Hầu hết những vở cải lương ra đời trong thời gian này là những vở ngắn, như các vở “Huyết lệ thù” do Nguyễn Ngọc Cung và Chi Lăng viết; vở “Vẹn tình cá nước” của Nguyễn Ngọc Cung… Ðặc biệt, thời gian này, vở cải lương “Hai bó rơm” của Nguyễn Ngọc Cung ca ngợi tình đoàn kết quân dân được đưa đi lưu diễn ở nhiều nơi, kéo dài mãi đến năm 1958 và được khán giả nhiệt liệt đón nhận, trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn đối với bộ đội và Nhân dân cả 2 miền Nam - Bắc.

Từ năm 1952 trở đi, nhiều tuồng cải lương, nhiều bài ca vọng cổ liên tục ra đời. Khi Sở Tuyên - Văn Nam Bộ phát động cuộc thi sáng tác, gọi là giải “Cửu Long 2” thì vọng cổ, cải lương bừng bừng khởi sắc. Soạn giả Mai Quân cho biết: Về cải lương, vở “Huyết lệ thù” của Nguyễn Ngọc Cung và Chi Lăng đoạt giải Nhất. Ðêm trao giải thưởng được tổ chức tại Giáp Nước, thị tứ sung túc gần đầm Bà Tường và cũng là đêm ra mắt các vở diễn nói trên.  

Ðầu năm 1955, tại cửa biển Sông Ðốc, Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung tạm biệt vợ con lên đường tập kết ra Bắc. Ra Bắc, Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung sống và sáng tác tại Hà Nội. Ông vừa là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chuyên ngành kịch bản sân khấu, điện ảnh, vừa là thành viên sáng lập Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Năm 1958, ông là Uỷ viên Thường trực, Bí thư Ðảng đoàn Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, tham gia thành lập Ðoàn Cải lương Nam Bộ trên đất Bắc.

Thời gian này, Nguyễn Ngọc Cung sáng tác nhiều tác phẩm phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. “Câu chuyện dưới trăng”, ca kịch truyền thanh, một thể loại chưa thật phổ biến trong lúc này, phản ánh tâm trạng binh lính, sĩ quan quân đội cộng hoà bị bắt buộc phải cầm súng đánh thuê cho quân xâm lược. Năm 1955-1957, ca kịch nêu trên phát trên sóng Ðài Tiếng nói Việt Nam, gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người nghe cả 2  miền Nam, Bắc.

Ông Nguyễn Kiên Ðịnh, nguyên Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin Minh Hải (nay là Cà Mau, Bạc Liêu), cho biết: “Trong thời chống Pháp, một số tháng tôi được ở gần anh Nguyễn Ngọc Cung, sau đó anh Cung đi tập kết. Khi ra Bắc, nghe ảnh viết một số bài vọng cổ, tiếp tục soạn thêm một số tuồng. Tuồng cải lương nổi tiếng ở miền Bắc là "Kiều Nguyệt Nga", anh cũng là người viết kịch bản phim "Biển động"…”.

Kịch bản phim truyện "Biển động" đã hoàn thành từ năm 1956 và tổ chức dàn dựng vào năm 1957, tại vùng biển Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nội dung phim tái hiện cuộc khởi nghĩa oai hùng tại Hòn Khoai, vùng đất cuối trời Nam năm 1940, do nhà cách mạng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo.

Năm 1961, Trung ương phân công Nguyễn Ngọc Cung về Nam. Năm 1963, ông phụ trách Chi hội Văn nghệ miền Nam, công tác tại vùng U Minh Hạ. Cho đến bây giờ, Nhạc sĩ Trần Thanh Hoà, nguyên Phó Ðoàn Văn công khu Tây Nam Bộ vẫn nhớ như in tình nghĩa, tấm lòng, đức độ, phong cách của Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung, đặc biệt là những tác phẩm một thời từng đi vào lòng người: “Anh Cung lúc đó đã có nhiều vở, hay nhất là “Kiều Nguyệt Nga”. Vở thứ hai là “Trương Ðịnh”. Vở thứ ba là "Biển động" - chúng tôi thường gọi là vở Phan Ngọc Hiển, vì nói về Phan Ngọc Hiển.

Còn bài ca lẻ, ảnh viết rất nhiều, anh em ca bài của ảnh rất mến. Tôi thuộc mấy bài liền của ảnh, trong đó có bài Xuân tình, viết về anh hùng La Văn Cầu. Ở Cà Mau hồi chống Pháp dường như ai cũng thuộc: Có người ở tỉnh Cao Bằng, huyện Trùng Khánh, xã Nùng Dinh/Dân thiểu số tên La Văn Cầu...”.

Theo lời kể của Nguyễn Ngọc Bình, con trai út của Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung, năm 1964, ông về Cà Mau công tác đã tìm cách liên hệ để rước vợ con vào thăm. Lãnh đạo Ðoàn Văn công giải phóng Cà Mau hết sức thông cảm, tổ chức chu đáo để hai con người sau nhiều năm góc biển, chân trời được đoàn tụ, sum vầy.

Dù đã hơn 50 năm, Nghệ sĩ sân khấu Huỳnh Hảnh vẫn không quên những ngày Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung ở tại căn cứ Ðoàn Văn công giải phóng Cà Mau: “Chính anh Mười Mây, trưởng đoàn, phân công tôi bố trí lực lượng đi rước chị Ngọc Cung. Chúng tôi rước chị vào kinh Ông Ðơn. Thời kỳ đó “cứ” văn công có hội trường lớn, chung quanh là nhà của diễn viên. Anh em lựa một cái nhà cách xa hội trường của đoàn để cho anh chị ăn ở mấy hôm nơi đó”.     

Năm 1965, Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung trở lại Tiểu ban Văn nghệ Trung ương Cục tại tỉnh Tây Ninh. Thời gian này, giặc Mỹ đã tiến hành chiến lược Chiến tranh cục bộ ở Việt Nam. Quân thù quyết tiêu diệt bằng được căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Dù mưa bom, bão đạn suốt cả đêm ngày nhưng khí thế chiến đấu của quân dân ta vẫn sôi sục. “Tiếng hát vẫn át tiếng bom”, hàng triệu người vẫn rầm rập tiến lên phía trước. Ðội ngũ văn nghệ sĩ vẫn “tay viết, tay súng”, không rời trận địa.

Nghệ thuật cải lương nam bộ ghi mãi tên ông

Ngày 18/6/1966, B52 dội bom xuống căn cứ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục ở vùng Suối Cây, tỉnh Tây Ninh, khiến Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung, Phạm Trần, Phong Anh và Nghệ sĩ Bảy Lương hy sinh. Chiến tranh đã cướp mất 4 tài hoa sân khấu cùng một lúc. Ðiều đau đớn nhất, khi B52 rải thảm lần thứ hai sau đó không lâu, mộ phần của Soạn giả liệt sĩ Nguyễn Ngọc Cung đã hoá thân vào lòng đất thép.

Sau ngày miền Nam giải phóng, con gái và con trai của Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung là Nguyễn Ngọc Hoà và Nguyễn Ngọc Bình dành nhiều thời gian lặn lội, cuối cùng mới tìm được di mộ tượng trưng của thân sinh tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP Hồ Chí Minh qua lời chỉ dẫn của các chú, các cô công tác với cha mình hơn 50 năm trước.

Gần đây, trở lại vùng căn cứ Tây Ninh, nơi biết bao dấu vết đạn bom bị dông tố thời gian vùi lấp, Nguyễn Ngọc Bình thắp hương trên những hố đất giữa chốn rừng già. Có nỗi đau chia ly nào sánh được khi từng cội cây, thềm lá bây giờ đều thấm đẫm máu xương và anh linh của người cha yêu thương chưa một lần biết mặt!

Từ năm 1961-1975, Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam có đến 23 cán bộ, soạn giả là văn nghệ sĩ hy sinh trên chiến trường miền Ðông Nam Bộ như Trần Hữu Trang, Nguyễn Ngọc Cung, Thanh Nha…

Nhiều thế hệ đương đại lúc nào cũng khâm phục, kính yêu, ngưỡng mộ, bày tỏ sự tri ân sâu sắc từ trái tim đối với Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung, người con tài hoa của đất nước.

Soạn giả cải lương Tiết Văn Dũng, người con của quê hương xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, từ lâu ngưỡng mộ Nguyễn Ngọc Cung, bộc bạch: “Tôi rất trân trọng tài năng và trí tuệ của chú Nguyễn Ngọc Cung. Ðại thi hào Nguyễn Du đã viết: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, tôi cảm thấy tinh anh của chú còn đọng mãi trong lòng, vì thế tôi cố gắng học theo chú rất nhiều...”.

Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tại Rạp Quốc Thanh, TP Hồ Chí Minh, vở cải lương "Kiều Nguyệt Nga" của cố Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung được liên tục trình diễn do các nghệ sĩ Bạch Tuyết, Thanh Sang, Út Trà Ôn giữ vai chính. Thời kỳ ấy, khán giả nồng nhiệt chào đón cải lương với tất cả niềm say mê, háo hức.

Ngày 8/1/1998, ông Bảo Ðịnh Giang, nguyên Uỷ viên Thường trực Ðảng, Ðoàn Văn nghệ Trung ương, nguyên Tổng Thư ký Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam, nguyên Trưởng Ban Văn nghệ miền Nam - phụ trách cán bộ đi “B” thời chống Mỹ, xác nhận và đề nghị truy tặng huân chương xứng đáng đối với Nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Cung: “Nguyễn Ngọc Cung là người có công đóng góp quan trọng đối với nền nghệ thuật cải lương Nam Bộ. Ðồng chí đã viết những vở có giá trị. Khi về Nam chống Mỹ, vẫn tiếp tục viết và hy sinh ở chiến trường. Tên của đồng chí được đặt cho một con đường ở TP Hồ Chí Minh…”. Tại Phường 8, TP Cà Mau cũng có con đường mang tên Nguyễn Ngọc Cung.

“Một tiếng tơ đồng bằng trăm cân thuốc nổ

Giọng oanh vàng làm nước đổ, thành nghiêng!”

Am tường lời tổng kết của người xưa, chúng ta mới hiểu vì lẽ gì Nguyễn Ngọc Cung đã hiến dâng tất cả cuộc đời mình cho nghệ thuật, cho Nhân dân, cho đất nước./.

Trường Sơn Ðông

GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC - QUỐC GIA THỊNH VƯỢNG

Gia đình - Nơi yêu thương bắt đầu, nơi hạnh phúc được gìn giữ

Bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị văn hoá dân gian cho phát triển du lịch

Trong Quy hoạch tổng thể Cà Mau đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xác định mục tiêu chiến lược và mang tính xuyên suốt chính là tập trung vào “bốn trụ cột” kinh tế đột phá gồm: Xây dựng hạ tầng từng bước đồng bộ, hiện đại, tạo động lực phát triển và liên kết vùng; đưa kinh tế biển trở thành ngành mũi nhọn; xây dựng nông nghiệp theo hướng sinh thái, hữu cơ, công nghệ cao; và cuối cùng là phát triển dịch vụ - du lịch xanh, bền vững, mang đậm bản sắc địa phương. Trong đó, “trụ cột” về du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng mang tính đa ngành, góp phần đưa Cà Mau trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và cả nước.

"Phim trường thiên nhiên": Cơ hội quảng bá du lịch, văn hoá Cà Mau

Những năm gần đây, Cà Mau liên tiếp xuất hiện trong nhiều dự án điện ảnh, truyền hình lớn. Từ những cánh rừng ngập mặn trải dài ở Năm Căn, vùng Ðất Mũi mênh mang sông nước đến Khu Di tích lịch sử quốc gia hòn Ðá Bạc đầy dấu ấn lịch sử... tất cả đang dần trở thành “phim trường tự nhiên” giàu tiềm năng của miền Tây Nam Bộ.

Nguyễn Ngọc Cung - Một đời vì cách mạng, một đời vì nghệ thuật

Nhà biên kịch Trịnh Thanh Vũ, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) tỉnh Cà Mau, vui mừng báo tin, quyển sách “Nguyễn Ngọc Cung - Nghệ sĩ cách mạng tài ba” đã chính thức ra mắt công chúng. Tôi hiểu, niềm vui ấy với ông thật lớn, bởi đó là sản phẩm kết tinh từ biết bao công sức, tâm huyết và cả hành trình dài nỗ lực.

Công an Cà Mau đoạt giải B toàn đoàn tại Liên hoan Nghệ thuật quần chúng An ninh nhân dân

Xuất sắc đoạt giải B toàn đoàn và được Bộ Công an trao Cờ “Chương trình nghệ thuật tốt”, Đoàn Nghệ thuật quần chúng Công an tỉnh Cà Mau đã để lại dấu ấn đậm nét tại Liên hoan Nghệ thuật quần chúng lực lượng An ninh nhân dân năm 2026.

Ý nghĩa hoạt động ngoại khóa tại triển lãm “Hồi sinh những vùng đất chết”

Với chủ đề “Hồi sinh những vùng đất chết”, sáng 20/6, tại Di tích lịch sử - văn hóa Khu lưu niệm Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Bảo tàng tỉnh Cà Mau phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cà Mau tổ chức hoạt động tham quan triển lãm và ngoại khóa dành cho cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ.

Ẩm thực Tết Đoan ngọ - nét đẹp giao thoa văn hoá

Trong tục cúng dịp Tết Đoan ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) của người dân Nam Bộ, ngoài món bánh ú truyền thống còn có món bánh xèo và bánh bông lúa. Nét đẹp văn hoá dân gian này phản ánh sinh động sự giao thoa, đoàn kết của các dân tộc anh em.

Nghệ nhân Ưu tú Ðỗ Ngọc Ẩn - Còn đó một chữ tình

Nghe tin Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Ðỗ Ngọc Ẩn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật (VHNT) tỉnh Cà Mau, từ trần (ngày 10/6/2026), anh em giới văn nghệ sĩ trong tỉnh bày tỏ niềm tiếc thương trước sự ra đi đột ngột của ông. Căn bệnh hiểm nghèo chuyển biến bất ngờ, ông không kịp nói lời từ giã. Vậy là hết một kiếp tằm trọn đời vương tơ...

Chúc mừng Tết Đoan Ngọ (mùng 5/5 âm lịch)

Diệt sâu bọ - giữ gìn nét đẹp truyền thống Việt

Lời người cầm bút thép gửi thế hệ sau

Trên chặng đường 101 năm của nền Báo chí Cách mạng Việt Nam, biết bao thế hệ nhà báo đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cầm bút, xây dựng nền tảng vững chắc cho nền báo chí cách mạng.