Thứ tư, 29-7-26 14:55:22
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ðại tá Võ Hà Ðô: Trọn đời dành cho những trang viết

Báo Cà Mau Cuối tháng Bảy, những người đã kinh qua đời lính, những ai đang hát tiếp khúc quân hành lại bùi ngùi tưởng niệm về một ngày trọng đại: ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7.

Cuối tháng Bảy, những người đã kinh qua đời lính, những ai đang hát tiếp khúc quân hành lại bùi ngùi tưởng niệm về một ngày trọng đại: ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7.

Để có được một Cà Mau đang vươn sức như hôm nay, đã biết bao nhiêu lớp người nằm xuống. Bao nhiêu mất mát, bao nhiêu bom đạn, bao nhiêu máu xương, bao nhiêu cảnh đời. Chiến tranh đã qua nhưng những vết hằn sâu của nó vẫn còn đó.

Ðại tá Võ Hà Ðô (chú Tư Ðô), mở bung cánh cửa sổ trong phòng làm việc, nắn nót những dòng chữ, nói: “Ký ức cứ cựa quậy hoài không yên, mình còn sức là còn viết. Viết về những trận đánh đã qua, viết về đồng đội, viết về một thời mình đã sống và chiến đấu”. Ðiều trăn trở lớn nhất cuộc đời của chú là 1,6% cựu chiến binh của tỉnh (toàn tỉnh có 30.000 hội viên) có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Qua lời chú, mới biết chiến tranh vẫn ám ảnh cuộc sống người lính. Thương tật, bệnh hoạn, con cái tật nguyền do chất độc hoá học, chưa đất, chưa phương kế sinh nhai. Gắn bó với công tác hội, chú luôn sẵn sàng cho những chuyến đi. Chú về tìm lại đồng đội, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của anh em, ghi nhận những trường hợp quá khó khăn. Y như rằng, mỗi lần thấy một hoàn cảnh éo le, chú lại nhiều đêm mất ngủ.

Miệt mài với công việc hội, chú Tư Đô dành thời gian để viết, viết về lịch sử, về đồng đội, về cuộc sống…

Tuổi 20 với ai cũng đẹp, chú Tư chọn lẽ sống vì Tổ quốc. Một đêm, người mẹ đảng viên một mình nuôi đàn con 10 đứa gọi chú lên nói: “Tư, ở nhà có anh em lo, con đi để đóng góp sức mình cho quê hương”. Thế là chú Tư Ðô lên đường, tham gia giải phóng Cà Mau. Trong hồi ức về miền quê Tân Hưng Tây, chú Tư chia sẻ: “Nhà nghèo lắm, chạy giặc liên miên, mồ côi cha, nên má càng vất vả. Nhưng chưa bao giờ má để mình thối chí”. Trình độ lớp 3 trường làng, chàng thanh niên lại tỏ ra đặc biệt có năng khiếu viết. Trang giấy và cây viết của chú Tư đã đi qua ngày giải phóng, qua các trận đánh ác liệt trên chiến trường Campuchia. Tuổi trẻ của chú cũng đã gởi hết vào nơi sự sống, cái chết chỉ mỏng manh như một lằn đạn.

Ở một cảm nhận rất khác về chiến trường Campuchia, chú Tư Ðô khắc khoải: “Tuổi trẻ mình không sợ hy sinh, chỉ có điều tình cảm hậu phương xa xôi quá. Anh em ai cũng thèm nghe một giọng nói, một dáng hình con gái của quê hương, xứ sở”. Sau mỗi cuộc chiến khốc liệt, lấy đất bạn làm quê hương, tình đồng đội làm ruột thịt, những chàng trai vì chính nghĩa lại quây quần bên nhau, nhìn nhau để tin về một ngày không xa sẽ trở về Tổ quốc. Hình ảnh anh em lúc đó hay tưởng tượng là một khung cửa sổ, bầu trời xanh trong, cánh chim câu tung bay trước gió. Mở cửa sổ và cả trời đất hoà bình sẽ nằm trong tầm mắt. Ðất mẹ Việt Nam yên bình, đón chào những người con trở về.

Nhưng, có những người mãi mãi bỏ lại tuổi thanh xuân ở nước bạn, có những người trở về với những thương tích nặng nề. Chú Tư Ðô tâm sự: “Chiến tranh mà, ở đâu cũng có chuyện buồn. Mình may mắn hơn đồng đội, 5 năm ở nước bạn, thuộc lực lượng rút về nước sau cùng mà vẫn lành lặn”. Người ta nói, ở chiến trường chỉ có đạn né mình, chứ chẳng cách nào né đạn. Nhiều phút sinh tử, chú Tư nhớ da diết về người mẹ, về đàn em nheo nhóc. Nhưng trong nỗi nhớ, người mẹ tần tảo, đàn em nhỏ, quê nghèo lại đẹp lạ kỳ. Chú thèm nghe tiếng mẹ, tiếng đùa giỡn của các em. Phải chi đừng có chiến tranh... Nghĩ tới đây, chú Tư Ðô nói với đồng đội: “Mầy ơi, tao thèm hoà bình quá”.

Trên những chặng đường chú Tư đi, có những câu chuyện in sâu vào tâm trí về đồng đội năm xưa. Thật bất ngờ, người Ðại uý, Chính trị viên tiểu đoàn trên chiến trường Campuchia Huỳnh Thanh Vân lại rơi vào hoàn cảnh hết sức khó khăn. Gặp lại người đồng đội trên đất Hoà Mỹ, Cái Nước, chú Tư Mác Vót (biệt danh của đồng chí Huỳnh Thanh Vân) trên một cái chòi giữa đồng khô mông quạnh. Hai chú Tư ôm nhau khóc. Chú Tư Mác Vót nói “tao có 3 công đất, chia 2 thằng con mỗi đứa 1 công, tao còn 1 công”. Chú Tư Mác Vót từng là chỉ huy của nhiều đồng chí hiện giữ nhiều trọng trách của Quân khu 9, giờ lại ở thế túng quẫn như vầy. Chú Tư Ðô mạnh dạn trình bày ý kiến hỗ trợ cho chú Tư Mác Vót lên Bộ Chỉ huy Quân sự Cà Mau và Bạc Liêu, sau đó 1 căn nhà tươm tất 50 triệu hoàn thành trong niềm vui “hết lớn” của chú Tư Mác Vót.

Đại tá Võ Hà Đô, quê quán: Xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nhập ngũ năm 1975, thuộc Đại đội Trinh sát của Tỉnh đội Cà Mau. Tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam tại Kiên Giang năm 1979. Tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia 5 năm. Sau khi về nước, ông công tác tại Quân khu 9, đến năm 1997 thì chuyển về công tác tại Tỉnh đội Bạc Liêu. Suốt thời gian này, ông viết nhiều bài cho tờ tin U Minh Quyết Thắng (tiền thân là tờ U Minh Anh Dũng), cộng tác đắc lực với Báo Minh Hải, sau này là Báo Bạc Liêu, Báo Cà Mau về các hoạt động của lực lượng vũ trang. Sau khi nghỉ hưu về công tác tại Hội Cựu chiến binh tỉnh Cà Mau, giữ chức Trưởng Ban Tuyên giáo. Đại tá Võ Hà Đô là thành viên của Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Cà Mau, sưu tầm tư liệu, nhân chứng lịch sử, đóng góp vào việc nghiên cứu Lịch sử Đảng bộ Cà Mau. Ông còn có nhiều bài viết đầy xúc động về đồng đội, gương người tốt - việc tốt đăng tải trên Báo Cà Mau.

Chú Tư Mác Vót từng chia sẻ với chú Tư Ðô: “Tao làm Thường vụ Hội Cựu chiến binh xã, đi công tác hoài, ngặt nỗi chỉ có chủ tịch với phó chủ tịch mới có lương”, sau đó cười xoà. Chú Tư Ðô cảm phục: “Người lính có cái chất lạc quan không thể kiếm ở đâu được, hoàn cảnh là vậy mà anh Vân đi hoạt động xã hội suốt”. Liền theo đó, chú Tư Ðô lại trăn trở: “Ờ, sức của hội có hạn, mà những hoàn cảnh ngặt nghèo thì mình đâu giúp được, nếu Nhà nước có chính sách bảo trợ những đối tượng đó thì may ra những người cựu chiến binh nghèo mới có thể ổn định cuộc sống”. Mày mò thu thập từng hoàn cảnh, chú Tư Ðô cùng lãnh đạo Hội mong nguyện vọng này sẽ sớm trở thành hiện thực.

Chú Tư Ðô có cái thẳng tính của người lính, cái hóm hỉnh của một người thông minh: “Có ăn học gì đâu con ơi, đánh giặc miết, nhưng buông súng là viết, viết riết rồi thành quen. Sau này trở về học bổ túc bập bõm rồi cũng tốt nghiệp, đúng là môi trường quân đội đã làm nên Võ Hà Ðô bây giờ”. Chú Ðô kể vui: “Ði chiến trường nước bạn về mất người yêu luôn cháu, chưa kể những lần về phép thăm má, trời đất ơi khổ tới mức chú không nỡ ra đi. Má rầy la, và cứ thế lại xông vào trận đánh”. Kết thúc nghĩa vụ quốc tế, chú Tư Ðô về công tác ở Quân khu 9, rồi về Bộ Chỉ huy Quân sự Bạc Liêu. Hết tuổi công tác chú mới về Cà Mau. Chú nói: “Mình còn sức còn cống hiến, trở về Cà Mau sau một chặng đường dài mới biết đi đâu cũng không bằng đất mẹ”. Ở Cà Mau, chú có một khung cửa sổ, một bầu trời xanh với những cánh chim câu tung bay trước gió…

Bút ký của Phạm Nguyên

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.