Doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước ưu đãi nhiều từ cấp vốn, vay vốn, thị trường trong hoạt động. Là nơi thu hút nhiều nguồn lực nhất và cũng là nơi có năng suất lao động bình quân thấp nhất. Trong khi đó kinh tế tư nhân đa dạng về quy mô, có số lượng nhiều nhất, đóng góp cho ngân sách hằng năm tăng dần nhưng không được ưu đãi, gánh nặng về chi phí nhân công, nguyên liệu, thị trường và nợ xấu trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Con người quyết định mọi thành bại của hội nhập và phát triển. Ta cần có một nền giáo dục tiên tiến, ngang tầm, tức có đội ngũ thầy giáo đủ mạnh, cơ sở vật chất nhà trường cơ bản đảm bảo giáo dục thực nghiệm. Trường đại học quốc gia phải nằm trong tốp khá của khu vực và tiến dần lên khá của thế giới để thu hút và đào tạo ra lực lượng lao động chất lượng cao.
Muốn làm được điều đó ta phải có chính sách để người tài về nước, người giỏi trong nước được tập hợp lại thành tầng lớp tri thức hiện đại bên cạnh sự ưu đãi, trọng dụng cũng như điều kiện cơ sở vất chất đảm bảo để họ cống hiến cùng với sự cải cách giáo dục mạnh, phù hợp mang lại hiệu quả. Có tầm nhìn, định hướng chiến lược cho giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu và dự báo thị trường lao động chất lượng cao ở tương lai.
![]() |
Kinh tế thuỷ sản phát triển bền vững, kinh tế nội lực đủ mạnh. Ảnh: VŨ TRÂN |
Thời gian dài năng suất lao động bình quân đầu người của ta tăng chậm. Năng suất lao động công nhân ta rất thấp so công nhân Singapore, Thái Lan. Còn công chức ta, với bộ máy Nhà nước cồng kềnh qua nhiều năm, cắt chỗ này phình chỗ khác, thành lập mới làm cho năng suất không tăng hoặc tăng chậm, trong khi đó lương lại tăng liên tục theo chiều tăng của giá cả để ổn định đời sống và giảm yếu tố tham nhũng trong bộ máy. Hơn thế nữa, hiện nay không chỉ các đơn vị sự nghiệp được ngân sách hỗ trợ mà các tổ chức hội đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp có bộ máy đủ cấp và rộng khắp. Chưa nói đặc thù đất nước ta phải lo và đương nhiên phải lo cho đối tượng gia đình chính sách, gia đình có công. Ðiều đó làm cho ngân sách luôn gặp khó khăn, nhiều năm phải vay để khắc phục bội chi ngân sách, phục vụ hoạt động chi thường xuyên hằng năm.
Doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước ưu đãi nhiều từ cấp vốn, vay vốn, thị trường trong hoạt động. Là nơi thu hút nhiều nguồn lực nhất và cũng là nơi có năng suất lao động bình quân thấp nhất. Trong khi đó kinh tế tư nhân đa dạng về quy mô, có số lượng nhiều nhất, đóng góp cho ngân sách hằng năm tăng dần nhưng không được ưu đãi, gánh nặng về chi phí nhân công, nguyên liệu, thị trường và nợ xấu trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt.
Ta nên hướng lao động cho phát triển kinh tế biển, kinh tế tư nhân, kinh tế tri thức. Nguồn lợi tôm cá trên biển, xa bờ ta không phải nuôi trừ bãi bồi cửa sông, cửa biển. Giảm ngay việc khai thác quặng mỏ tài nguyên trong thềm lục địa không có tranh chấp, ta chỉ khai thác những nơi chồng lấn và giảm dần việc xuất khẩu thô, nguyên liệu chưa qua chế biến, cả xuất khẩu nhân công lao động cơ bắp. Phát triển công nghiệp phụ trợ để giữ chân các nhà máy có công nghệ hiện đại sử dụng vốn nước ngoài. Cải cách mạnh hơn nữa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực nóng bỏng hiện nay. Tiếp tục thu hút vốn đầu tư và phân bổ, sử dụng hiệu quả. Rà soát cơ chế kịp thời ban hành văn bản phù hợp kích thích mọi tiềm năng, nguồn lực.
Tóm lại, phát triển bền vững khi nội lực đủ mạnh. Muốn thế, đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp Nhà nước và hệ thống ngân hàng. Nhà nước cần giảm bớt một số lĩnh vực độc quyền, không bao cấp nhằm tạo ra thể chế thị trường thực sự, xoá bất hợp lý trong nguồn lực đầu tư. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân phát triển hơn nữa. Ưu tiên nguồn lực cho phát triển công nghệ thông tin, công nghiệp phụ trợ. Giảm xuất khẩu tài nguyên, lao động giá rẻ, cải cách giáo dục để tạo nguồn nhân lực chất lượng.
Gia nhập hiệp định thương mại tự do, tạo điều kiện tăng xuất khẩu, nhất là những hàng hoá ta có thế mạnh như giầy dép, may mặc, gỗ, trà, cà phê, gạo, thuỷ hải sản. Phòng chống tham nhũng cần mạnh tay hơn, khơi gợi giám sát từ Nhân dân, qua báo chí, xử mạnh vào cán bộ cao cấp để làm gương. Cải cách thể chế chính sách, tránh lạc hậu, bất cập, không thống nhất, không phù hợp. Tạo môi trường lành mạnh. Triển khai đồng bộ hệ thống các giải pháp.
Quy hoạch lại định hướng phát triển công nghiệp và phát triển tiến bộ kỹ thuật, theo chuỗi ngành, sản phẩm chủ lực. Giảm mạnh tiến tới dừng hẳn xuất khẩu tài nguyên khoáng sản. Phát triển kinh tế tri thức. Khai thác tốt nguồn tài chính FDI, kiều hối, chứng khoán, bất động sản đồng thời đột phá thể chế, nhất là thủ tục hành chính, tín dụng, đất đai, vốn, con người kích thích trỗi dậy mạnh kinh tế tư nhân (tới đây vốn ODA giảm, chi phí vốn, nhân công ngày càng cao). Nguồn lực cho tăng trưởng nhanh bền vững phần lớn dựa vào giá trị do người dân và doanh nghiệp trong nước làm ra. Xây dựng, thực hiện ngay kế hoạch với một tầm nhìn dài hạn.
Không như các con hổ ở khu vực Ðông Nam Á, Việt Nam là một nước nghèo, lạc hậu đi ra từ chiến tranh và đi lên từ đổi mới năm 1986. Năm 2008 được ghi tên mình vào các nước thu nhập trung bình thấp. Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người 1.192 USD/người/năm. Theo Ngân hàng Thế giới và các tổ chức khác, nếu GDP tăng trưởng ở mức 7%/năm thì 10 năm sau GDP sẽ tăng gấp đôi và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng đó, năm 2028 Việt Nam sẽ có thu nhập bình quân 4.000 USD/người/năm. Ðây là mức vừa đủ chuẩn thoát ra khỏi nước có thu nhập trung bình.
Một số chuyên gia kinh tế thế giới cảnh báo Việt Nam có dấu hiệu rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Bẫy thu nhập trung bình là nước không có cơ hội trở thành nước phát triển, tức loay hoay ở mức dưới 4.000 USD/người/năm rồi mãi giậm chân một chỗ hoặc đi xuống. Chính phủ đang điều hành linh hoạt chính sách vĩ mô trên mọi lĩnh vực, trong đó có trọng tâm, lộ trình nhằm đạt được mục tiêu, kế hoạch trung dài hạn đã định sẵn, tập trung tháo gỡ những khó khăn cũng không ngoài mục tiêu đó, tức phát triển bền vững, tránh rơi vào bẫy thu nhập bình quân./.
Trịnh Công Văn (KBNN Cà Mau)