Hội nhập kinh tế toàn cầu mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tỉnh nhà. Song, bên cạnh đó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải được quan tâm ngay từ bây giờ, nếu như không muốn doanh nghiệp bị đẩy vào cảnh nợ nần, phá sản. Đó là nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh vốn có.
Xây dựng nhà ở thương mại dành cho người có thu nhập thấp trên địa bàn TP. Bạc Liêu. Ảnh: Tú Anh
Bạc Liêu có hơn 1.780 doanh nghiệp, nhưng phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ. Điều đó thể hiện ở tổng vốn đăng ký đầu tư của hơn 1.780 doanh nghiệp với khoảng 14.500 tỷ đồng. Số tiền này chỉ bằng một vài dự án lớn ở các tỉnh, thành khác. Đặc biệt, doanh nghiệp có vốn đăng ký trên 100 tỷ đồng chỉ có 25 doanh nghiệp, còn lại là vài chục tỷ đồng, hay một vài tỷ đồng/doanh nghiệp.
Thực tế trên cho thấy nguồn lực tài chính các doanh nghiệp còn hạn chế, phần lớn nguồn vốn phục vụ cho phát triển sản xuất, kinh doanh đều dựa vào vốn vay của các ngân hàng thương mại. Sự lệ thuộc này làm cho doanh nghiệp khó chủ động phát triển sản xuất, kinh doanh, bị ảnh hưởng và chi phối bởi các ngân hàng, áp lực lãi suất tăng cao và gần như “chạy vốn” là tình trạng khá phổ biến. Bằng chứng là một số dự án xây dựng cơ bản, thương mại - dịch vụ bị phá sản khi ngân hàng không đầu tư... Đơn cử như các dự án xây dựng nhà ở xã hội, nhà dành cho người có thu nhập thấp cũng bị “đóng băng” khi ngân hàng không giải ngân.
Ông L.C.T - doanh nghiệp chuyên ngành xây dựng huyện Hòa Bình, cho biết: “Hầu hết các dự án đầu tư lớn đều do doanh nghiệp ngoài tỉnh trúng thầu, còn các doanh nghiệp của tỉnh rất khó tiếp cận hay cạnh tranh. Ngoài nguyên nhân nguồn lực tài chính, doanh nghiệp của tỉnh còn bị hạn chế trình độ, mô hình quản lý và cả những kinh nghiệm trong khai thác dự án”.
Rõ ràng đây là những yếu kém của các doanh nghiệp Bạc Liêu, trong đó phải nói đến nguồn lực và quản lý. Về nguồn lực, nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến các chương trình, chính sách phát triển nguồn nhân lực, khi nào cần nhân lực thì tuyển lao động vào làm, còn khi hết việc làm thì cho lao động thôi việc. Và lao động theo kiểu thời vụ ở ngành xây dựng, chế biến thủy hải sản xuất khẩu là rất phổ biến. Về quản lý thì nhiều doanh nghiệp vẫn còn quản lý sản xuất - kinh doanh theo mô hình gia đình; ngại mở rộng, phát triển sản xuất bởi sợ “ra biển lớn gặp sóng to”. Việc làm này đã kìm hãm năng lực, thế mạnh vốn của doanh nghiệp, làm cho chất lượng sản phẩm hàng hóa chậm cải tiến, chậm nâng cao chất lượng. Ngoài ra, hàng loạt những bất cập khác cũng làm cho doanh nghiệp không tạo được khả năng cạnh tranh như: công nghệ sản xuất lạc hậu, giá thành sản xuất còn cao, sản phẩm đơn điệu, sản xuất thô và chưa đạt giá trị gia tăng cao…
Từ thực trạng trên, thiết nghĩ, tỉnh cần xây dựng chương trình giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập và phát triển bền vững. Đây là vấn đề mang tính sống còn khi các cam kết từ các hiệp định thương mại ngày càng đến gần và phát huy hiệu lực.
KIM TRUNG