Thứ tư, 24-6-26 22:40:54
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Mô hình nuôi tôm Việt - Úc: Siêu tiết kiệm, siêu lợi nhuận

Báo Cà Mau

Để thực hiện mục tiêu đạt 10 tỷ USD xuất khẩu tôm đến năm 2025 mà Thủ tướng giao cho ngành tôm Việt Nam, chuyện hạ giá thành nuôi tôm là việc khẩn cấp, bên cạnh đầu tư công nghệ nuôi, chất lượng tôm nuôi.

Tập đoàn Việt - Úc vinh danh hộ nuôi tôm triển khai mô hình nuôi chi phí thấp, hiệu quả cao.

Tôm thu hoạch từ Công ty Sao Đại Dương có kích cỡ 22 con/kg (con giống Việt - Úc). Ảnh: T.Đức

Theo nghiên cứu từ Tổng cục Thủy sản, chi phí nuôi tôm ở nước ta còn cao hơn một số nước như Ấn Độ, Ecuador, Thái Lan do nhiều yếu tố: Tôm giống, thức ăn qua nhiều khâu trung gian tăng 20 - 30% so với giá gốc, tỷ lệ ao nuôi trúng chưa cao... Do đó việc tìm kiếm các giải pháp giúp tiết kiệm chi phí trong nuôi tôm cùng với ứng dụng các công nghệ vượt trội trong nuôi trồng, giúp mang lại hiệu quả cao là cách tiếp cận khả thi giúp người nuôi tôm vượt qua các giai đoạn khó khăn khi mà giá tôm đang có chiều hướng giảm mạnh.

Hiện nay, Tập đoàn Việt - Úc là đơn vị tiên phong trong việc đầu tư và nghiên cứu các mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao như nuôi siêu thâm canh trong nhà kín hay mô hình nuôi nhà màng bong bóng. Để phù hợp với điều kiện, chi phí đầu tư của các hộ dân, Tập đoàn cũng đã nghiên cứu ra mô hình nuôi giúp giảm chi phí tối đa và nâng cao lợi nhuận với tên gọi: Mô hình nuôi tôm Việt - Úc: Siêu tiết kiệm, Siêu lợi nhuận.

Một ưu điểm nổi bật của mô hình này chính là việc không cần thiết che lưới lan, không cần vệ sinh bạt mỗi ngày, giảm nhân công lao động, giảm việc sử dụng khoáng hay hóa chất không cần thiết, giảm lượng nước thay, từ đó giảm chi phí nuôi đáng kể. Điều này góp phần tăng lợi nhuận cho tôm đầu ra, trong tình hình giá tôm thu mua vào các nhà máy chế biến đang giảm đáng kể thì mô hình này được xem là một giải pháp hữu hiệu cho bà con nuôi tôm.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, Tập đoàn Việt - Úc đã triển khai mô hình này cho hơn 17 hộ tại khu vực ĐBSCL. Trong đó, 7 ao đã thu cho kết quả tương đối tốt, điển hình có hộ của anh Nguyễn Minh Thắng triển khai mô hình nuôi tại Đầm Dơi với tôm thu được 37 con/kg, doanh thu: 1,2 tỷ đồng, chi phí tổng: 650 triệu đồng, lợi nhuận:  527 triệu đồng.

Ngoài việc giảm chi phí, mô hình này còn mang tính bền vững khi lượng nước sử dụng được giảm thiểu, nước thay được tuần hoàn qua ao cá rô phi và tái sử dụng nên khắc phục được nguy cơ bị bệnh phân trắng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các mô hình nuôi ngoài trời hiện nay. Trong kết quả thực tế trên, khi tổng kết có một số mô hình nuôi có tỷ lệ sống cao hơn 100% do khấu hao đi đường cho khách hàng, nếu thực hiện tốt giải pháp thuần tôm thì lượng tôm hao do thay đổi môi trường thấp sẽ có tỷ lệ sống khá cao.

Với những kết quả bước đầu đạt được, có thể thấy mô hình này góp phần giảm chi phí nuôi, tăng lợi nhuận. Bên cạnh đó, tôm đầu ra đạt chuẩn xuất khẩu với việc sử dụng con giống Việt - Úc có thể truy xuất được nguồn gốc, mô hình nuôi còn thân thiện với môi trường. Mô hình nuôi này phù hợp với xu hướng phát triển bền vững, đặc biệt vào thời điểm giá tôm đang có nhiều biến động thì đây chính là một giải pháp tối ưu cần triển khai và mở rộng.

TIÊN ĐỨC

Kết quả chi tiết các mô hình nuôi đã thu hoạch trong tháng 6.

Thông tin liên hệ: Để tìm hiểu về việc triển khai mô hình nuôi tôm Việt - Úc, xin vui lòng liên hệ ĐT: (028) 3824 7788 - Hotline: 0941999955 (anh Tiễn) hoặc 0911112225 (anh Thanh)

Hướng dẫn kỹ thuật: Ương nuôi giai đoạn vèo

Để mô hình nuôi này triển khai thành công, ngoài việc phải thả tôm giống từ nguồn có chất lượng cao, công trình ương nuôi giai đoạn vèo cũng đóng vai trò hết sức quan trọng để nâng cao tỷ lệ sống sau 25 - 35 ngày thả nuôi. Tùy theo kích thước ao nuôi mà chúng ta thiết kế ao vèo hợp lý. Ao vèo có thể thả mật độ từ 1.500 đến 2.000 Pl12/m2 tùy theo điều kiện bố trí dàn bông mai sục khí đáy. Mực nước nên dao động từ 60 - 80cm và phải có 1 dàn quạt để gom phân và thức ăn thừa xả thải 2 lần trong ngày.

Việc bố trí ao vèo từ các ao vuông bo góc hoặc các ao khung bạt tròn sẽ hỗ trợ việc gom phân hay thức ăn thừa tốt hơn, tùy theo hiệu quả của việc si phông giữa ao sẽ giúp kéo dài sức tải ao nuôi, kéo dài được giai đoạn ương vèo mà không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng tôm nuôi.

Ao ương vèo phải được phủ lưới lan để hạn chế ánh sáng cường độ cao chiếu trực tiếp đến ao nuôi làm tăng nguy cơ tảo phát triển ở mật độ cao, khi lượng dinh dưỡng do ương nuôi ở mật độ cao tăng, tảo sẽ có nguy cơ nở hoa và tàn trong hệ thống ao nuôi. Đây là một nguyên nhân gây thiếu oxy lớn do nhu cầu oxy hóa lượng tảo tàn và cũng phát sinh độc tố Ammonia khá nhanh. Ngoài ra, việc rào lưới xung quanh ao cũng hạn chế các rủi ro về mặt an toàn sinh học khi không có chim, cò, cua, còng, chuột, rắn… có thể xâm nhập vào ao ương.

Sử dụng Chlorine (Calcium Hypochlorite 70%) với liều lượng 5 - 10 ppm (5 - 10 kg/1.000 m3) tùy thuộc vào giá trị pH của nguồn nước (pH càng nhỏ sẽ xử lý ở liều thấp hơn). Nước sau khi xử lý khoảng 20 giờ có thể được cấp vào ao nuôi. Nếu có hệ thống đèn UV xử lý trước khi cấp vào ao nuôi sẽ cho kết quả tốt hơn nếu thời gian sử dụng sau khi xử lý Chlorine bị kéo dài. Nước trước khi cấp vào ao vèo nên qua túi lọc < 10 micron sẽ an toàn (có thể chia ra nhiều túi khi cấp nước với lưu lượng cao).

Trong giai đoạn vèo, chỉ si phông ngày 2 lần, chỉ cấp nước bù cho lượng nước mất đi do si phông, chỉ sử dụng vi sinh, men tiêu hóa và thức ăn, không sử dụng bất kỳ khoáng, hóa chất, mật đường… trong suốt quá trình nuôi. Việc quản lý thức ăn, vận hành hệ thống sục khí, quạt nước để đảm bảo thức ăn được phân bố đều, tôm bắt mồi tốt nhưng đáy ao vẫn sạch sau mỗi lần si phông được xem là yếu tố thành công của giai đoạn này. Tỷ lệ sống của giai đoạn này dao động từ 85 - 95% tùy thuộc vào kinh nghiệm quản lý, chất lượng nguồn giống hay nguồn nước của vùng nuôi.

Tôm sau khi vèo sẽ được thuần nước với ao nuôi và chuyển sang ao nuôi khi nhiệt độ nước hai ao không chênh lệch quá 0,5oC. Việc kéo và chuyển ao nên tiến hành vào ban đêm để giảm sốc về nhiệt độ hay ánh sáng gây ra. Trong quá trình nuôi, ngoài việc kiểm soát tốt lượng thức ăn thông qua sàn ăn hay si phông từ 3 - 4 lần/ngày mà không cần bổ sung bất kỳ khoáng hay hóa chất gì để gia tăng giá thành không cần thiết. Chỉ cần bổ sung men tiêu hóa vào thức ăn để kích thích tôm ăn tốt, bảo vệ hệ thống gan tụy hay đường ruột tôm nuôi.

Trong quá trình nuôi, có thể sử dụng oxy già với liều lượng từ 1,5 - 2,5 ppm (1,5 - 2,5 lít/1.000 m3) để khống chế tảo lam phát triển khi có mầm trong ao nuôi. Ngoài ra, khi tôm lột vỏ nhiều ở giai đoạn > 10 gram sẽ làm suy giảm độ kiềm thì nên bổ sung bicarbonat để đảm bảo độ kiềm trong suốt vụ nuôi không thấp hơn 110 mg/l cho dù độ mặn ao nuôi bị giảm thấp.

Đá Bạc vào mùa ruốc

Những ngày này, không khí tại miền biển xã Đá Bạc trở nên nhộn nhịp hơn khi bước vào mùa khai thác ruốc. Đầu vụ thuận lợi với sản lượng dồi dào, giá cả ổn định mang lại niềm vui cùng nguồn thu nhập cao cho người dân địa phương.

Nâng cao hiệu quả nuôi tôm sú quảng canh cải tiến bằng giống gia hoá

Giải pháp sử dụng tôm giống gia hoá được kỳ vọng sẽ giúp tăng năng suất tôm nuôi, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.

Tăng hiệu quả quản lý chăn nuôi, thú y theo chuỗi

Sáng 18/6, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau phối hợp với Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn tổ chức khai giảng lớp tập huấn nâng cao năng lực thực thi quản lý nhà nước theo chuỗi trong lĩnh vực chăn nuôi và thú y.

Tìm đầu ra cho nghề nuôi lươn ở Cà Mau

Đó là nội dung chính được bàn luận, trao đổi tại Hội thảo “Tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển nghề nuôi lươn trên địa bàn tỉnh Cà Mau”, do Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức vào sáng 17/6.

Đảm bảo bàn giao mặt bằng sớm để triển khai thi công dự án 7 cống ngăn mặn

Chiều 16/6, đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, Tổ trưởng Tổ giám sát số 05, đã đi kiểm tra thực tế Dự án xây dựng 7 cống ngăn mặn, chống triều cường bảo vệ sản xuất vùng nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Dự án do Ban Quản lý dự án công trình nông nghiệp tỉnh làm chủ đầu tư.

Tìm giải pháp phục hồi rừng tràm suy thoái tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ

Tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, quá trình già hoá tự nhiên của cây rừng, kết hợp với sự suy thoái của hệ sinh thái đất than bùn dưới tác động của biến đổi khí hậu dẫn đến nhiều khu vực rừng tràm đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Ban Quản lý Vườn đang phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học đánh giá nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng rừng tràm chết, ngã đổ.

Bảo vệ nguồn lợi cá đồng tự nhiên mùa sinh sản

Mùa mưa đến là lúc các loài cá đồng bước vào kỳ sinh sản. Người dân tại các vùng ngọt hoá ở Cà Mau đang tích cực bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản quý giá này.

Tiến tới kinh tế lâm nghiệp đa giá trị

Bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là chuyển từ tư duy “lâm nghiệp bảo vệ” sang “kinh tế lâm nghiệp đa giá trị” là mục tiêu trọng tâm trong phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững của Cà Mau thời gian tới. Theo đó, tỉnh hướng đến nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lâm nghiệp, tạo việc làm, ổn định sinh kế, nâng cao đời sống người dân vùng rừng và ven biển, đồng thời tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao khả năng hấp thụ carbon, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cà Mau định hướng hình thành ngành công nghiệp nuôi biển hiện đại

Với vị trí địa lý đặc biệt, sở hữu hệ sinh thái phong phú, Cà Mau xác định phát triển nuôi biển là ngành kinh tế mới mang tính đột phá. Đây là bước đi chiến lược nhằm gia tăng giá trị, không chỉ mở hướng chuyển dịch sinh kế bền vững cho ngư dân, bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, mà còn đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh.

Nuôi biển - hướng đi chiến lược mới của kinh tế thuỷ sản

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh Cà Mau đang tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, trong đó nuôi biển được xác định là một trong những hướng đi quan trọng, góp phần tái cơ cấu ngành thủy sản, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, môi trường sinh thái và chủ quyền biển, đảo.