Thứ sáu, 12-6-26 11:21:14
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nơi rừng ngâm chân biển

Báo Cà Mau (CMO) Trước năm 1997, tỉnh Minh Hải chưa chia tách thành 2 tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau như bây giờ, cơ quan báo Minh Hải của tôi đóng ở Cà Mau nên suốt 10 năm làm phóng viên báo Minh Hải tôi đã lên rừng, xuống biển tung hoành khắp đất trời Cà Mau.

Thời Minh Hải, có một tính toán trên cơ sở khoa học rằng, nếu tính vùng lãnh hải, thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam thì Việt Nam biển lớn hơn Việt Nam lục địa đến 3 lần. Và nếu theo cách tính ấy thì Minh Hải biển lớn hơn Minh Hải lục địa đến 9 lần.

Cái đặc biệt nữa là trữ lượng nguồn lợi thuỷ sản của tỉnh Minh Hải biển thời đó giàu có vào bậc nhất nước. Trong cẩm nang nghề cá của Bộ Thuỷ sản ghi rằng: 100% loại cá tôm của biển Việt Nam đều có mặt ở vùng biển này vào thời ấy.

Người dân mưu sinh dưới chân rừng. Ảnh: NHẬT MINH

Lên rừng

Nếu ở Tây Nguyên, Tây Bắc của Việt Nam hay nhiều nơi trên thế giới, rừng và biển là 2 thái cực rất khác nhau, với độ cao chênh lệch; sinh thái, sinh cảnh khác biệt… thì lạ lùng thay, ở Cà Mau rừng ngâm chân dưới biển, bắt nguồn từ biển. Bãi bồi dưới chân rừng do phù sa biển tạo thành, để rừng dần dần đi ra phía biển và theo đó thuỷ đặc sản của biển lũ lượt kéo vào cư ngụ trong rừng. Có thể nói, ở Cà Mau rừng là biển, biển là rừng, đi lên rừng chẳng khác đi xuống biển.

Nhớ đận sau giải phóng, thấy gia đình nghèo quá, anh Hữu (anh ruột của tôi), xin nghỉ phép về nhà rồi rủ tôi chèo xuồng xuống Ðầm Dơi mua ba khía về cho má tôi bán. Xuồng chèo tới Gành Hào là đã thấy rừng đước điệp trùng giăng giăng. Hồi đó rừng trùm kín huyện Ngọc Hiển, chạy dài xuống Mũi Cà Mau và một phần diện tích của các huyện Ðầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân… Mà toàn là rừng nguyên sinh với những cây đước to cả ôm tay không giáp. Anh em tôi đi chỉ bỏ theo gạo, muối, nước mắm…, còn thức ăn thì khỏi lo, tới bữa cơm là ghé vào một cánh rừng rồi lội lên tìm thức ăn “tươi sống”. Bữa đó là nước rong tháng 8 âm lịch, tôi và anh Hữu vừa lên rừng đã thấy cua biển bò lểnh nghểnh dưới chang đước. Chúng thấy động, giương cặp càng đỏ chót lên mà nghênh chiến. Tôi và anh Hữu bắt một lúc đã quảy không nổi. Chúng tôi còn bắt được những con vọp to, rồi bao nhiêu loại khác có thể làm thức ăn được nằm đầy dưới chân rừng.

Chúng tôi chèo xuồng cặp bến nhà chị Năm, là chị cô cậu ruột của tôi ở Cây Tàng, thuộc xã Tân Tiến, huyện Ðầm Dơi, để nhờ chị mua ba khía giúp. Chị Năm vốn là vợ anh Năm Thống, Trưởng phòng Tuyên truyền của Ban Tuyên huấn tỉnh Minh Hải (bị bệnh mất năm 1989). Thấy 2 đứa em lặn lội vượt gần 100 cây số xuống mua ba khía, chị bảo: “Tưởng mua chở đầy ghe chài, chứ chiếc xuồng nhỏ như xuồng 2 cậu, chế kêu mấy cháu giúp bắt một đêm là đầy xuồng rồi. Thôi lên nhà ăn cơm đi, tối đi bắt, đêm nay là 30/8, đêm ba khía hội mà…”.

Khoảng 6 giờ chiều, thằng Bê, thằng Khởi (con chị Năm), xách dụng cụ xuống xuồng gồm: bao tay, đèn khí đá, bao đựng ba khía… để 4 cậu cháu đi bắt ba khía.

Xuồng chúng tôi chèo lòn lách trong những kênh, những xẻo ngoằn ngoèo và đầy chang đước. Muỗi cũng túa ra như vãi trấu. Hơn 1 giờ sau chúng tôi đã lọt giữa cánh rừng đước lớn, có lẽ là rừng nguyên sinh. Cây đước đan xen rậm rịt và cao trật ót. Lúc này là chính con nước rong, nước tràn lên ngập hết trảng rừng. Chúng tôi cặm xuồng và mở đèn lên thì cơ man nào là ba khía từ dưới nước, từ rừng, từ khắp các kênh rạch kéo đến bu kín chang đước. Có những gốc đước soi đèn chỉ thấy ba khía. Người săn ba khía càng về khuya càng nhiều. Ánh đèn soi sáng rực khu rừng, vậy mà không tài nào bắt hết ba khía. Chúng tôi mang bao tay vào, mở miệng bao đặt dưới gốc cây, cứ thế mà lấy tay cào cho ba khía rớt vào miệng bao. Chỉ 2-3 gốc đước chúng tôi đã cào đầy bao, nặng khoảng 20 kg. Bốn cậu cháu bắt 3 giờ đồng hồ, chiếc xuồng của tôi đã chở khẳm đừ.

Hồi đó tôi xem chuyện ấy là bình thường, nhưng khi cuộc đời thêm nhiều tuổi, khi mà thiên nhiên không còn gì để ghi dấu ấn nữa thì tôi mới có nhiều suy nghĩ. Ba khía hội là một tập tính sinh học của loài này để chúng duy trì nòi giống. Nó xảy ra thường niên. Những người ở rừng lớn tuổi một chút, đều tận mắt chứng kiến hiện tượng đặc biệt này. Nó minh hoạ một cách sinh động nhất rừng chẳng những là vàng mà còn có những điều kỳ thú có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với con người. Tôi mơ ước, giá mà bây giờ hiện tượng kỳ thú ấy còn tồn tại, nó sẽ giúp người ta yêu quý rừng không biết chừng nào.

Xuống biển

Năm 1982, như duyên số bày đặt, tôi đi xuống cửa biển Sông Ðốc để viết bài về nghề cá thì được tận mắt chứng kiến một kỳ thú của biển. Hơn 40 năm rồi, tôi không nhớ tên chủ ghe, chỉ nhớ đó là một chiếc ghe làm nghề đánh lưới biển. Sáng hôm đó chiếc ghe ấy từ cửa Sông Ðốc, thuộc huyện Trần Văn Thời, đi đánh lưới như mọi ngày, ghe ra được 3 hải lý, tính từ cửa biển và thả lưới. Mẻ lưới ấy trúng luồng cá rún, cá rún nhiều tới mức lưới thâu lại còn 2.000 m2 thì không thể rút nữa, vì cá rún đã đặc cứng. Chúng nổi đầu dày đặc và quẫy trắng mặt biển, mỗi con từ 5-10 kg. Chủ ghe phải liên lạc vào bờ xin “cấp cứu”. Và 16 chiếc ghe to của cửa Sông Ðốc chạy ra ứng cứu. Họ đã thu hoạch mẻ lưới ấy 127 tấn cá rún. Cá bán không hết, phải huy động hàng ngàn người dân Sông Ðốc đến xẻ khô. Một tháng sau, người ta đi ngang chợ Sông Ðốc còn nghe tanh mùi cá rún.

Còn tôi chỉ biết ngồi nhìn biển mà rằng: Biển quê ta thật là giàu có!

Hứng chí quá, không kiềm được khi anh Tài, Ðội trưởng Ðội Kiểm ngư của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tỉnh, rủ tôi ra biển chơi. Thế là tôi xách gói xuống tàu theo anh đi một vòng vịnh Thái Lan và biển Ðông cả tuần, mà không phân vân suy nghĩ gì.

Khi tàu ra đến tuyến khơi (theo cách gọi của nghề biển), đó là nơi tiếp giáp với hải phận quốc tế, cũng là tuyến cuối cùng của Việt Nam biển, thì 1 thuyền viên, trước cũng là ngư phủ, nói với tôi: "Ðây là nơi tập trung cá kình. Lúc trước vì gia cảnh khó khăn tôi đã liều mình giong thuyền ra tận đây để câu cá. Tôi đã câu được những con cá lạt to cỡ bắp vế, những con cá thu cỡ 30-40 kg, những con cá ngừ đại dương nặng 70-80 kg. Cá mà cắn câu rồi nếu không kéo lên nhanh thì cá mập táp mất. Cá mập lội thành bầy, chẳng ai dám lặn xuống biển".

Tàu đến gần vùng biển Hòn Khoai, tôi được chỉ cho xem một vùng biển tạo ra huyền thoại của nghề cá, đó là bãi giao vĩ cá đường. Từ rất xưa vùng biển này có một chu kỳ sinh hoạt của cá đường, vào tháng 2-3 âm lịch. Ðó là mùa biển êm mà người đi biển bảo “trải tấm giấy xuống còn không ướt”, hàng triệu con cá đường từ tít tận mù khơi của biển kéo về thực hiện công việc duy trì nòi giống. Chúng quẫy nước làm xôn xao một vùng biển rộng. Người của nghề cá gọi đó là ngày hội cá đường. Nó cũng giống như ba khía hội, rẹm hội… đặc trưng của vùng bán đảo Cà Mau. Có một cái lệ, bất di bất dịch và nhuốm màu mê tín rằng, khi phát hiện hội cá đường là ngư dân tung hô gọi nhau đến để cùng hưởng lộc biển. Lúc ấy hàng trăm chiếc tàu vây lấy luồng cá mà đánh bắt, tiếng reo hò vang dậy cả vùng biển.

Cá đường là một loại cá quý, thịt ăn rất thơm ngon. Ðặc biệt là cái bong bóng rất to, có con bong bóng đem phơi rồi vẫn cân nặng nửa ký. Bong bóng cá đường bồi dưỡng cơ thể không gì bằng và có tính dược liệu quý. Vì thế thời nào, giá bong bóng cá đường cũng đắt đỏ, thuộc vào hạng sơn hào hải vị. Ngày xưa, hội cá đường diễn ra đúng chu kỳ sinh sản của chúng là mỗi năm một lần, năm nào cũng có. Người làm nghề biển mà gặp hội cá đường thì giống như gặp kho báu dưới lòng biển. Cũng năm 1983 đó, ông Sáu Tuôi, ông Hai Phóc ở Rạch Gốc, Tân Ân gần Mũi Cà Mau, bắt gặp hội cá đường, mỗi ông đánh bắt được 2.000-3.000 con. Nghe nói lần ấy, 2 ông bán bong bóng cá mua vàng xách đến mỏi tay. Hai ông xây 2 ngôi nhà lầu đồ sộ đầu tiên ở rừng đước Cà Mau.

Hồi đó, vì cá đường nhiều quá nên ít ai ăn xác cá đường và nó cũng không bán được. Vì thế, khi bắt được cá đường, người ta mổ lấy bong bóng, còn xác thì thả xuống sông. Xác cá đường mỗi con nặng 15-20 kg. Ðầu cá đem nấu canh chua ăn rất béo, không thua bất kỳ loại cá biển nào. Ðặc biệt, trứng cá đường làm mắm ăn rất ngon, đó phải gọi là mắm vua, được chế biến bởi ngư dân làm nghề biển Minh Hải. Ai đã được ăn một lần thì không thể quên được.

Ðã nhiều chục năm qua, bãi biển Khai Long vắng xác cá đường. Chuyện một thời, nhắc lại còn xuýt xoa tiếc nuối./.

 

Phan Trung Nghĩa

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.