Thứ ba, 9-12-25 12:33:44
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Về đâu hai tiếng "cải lương“?

Báo Cà Mau (CMO) Loại hình nghệ thuật cải lương đang đi về đâu trong dòng chảy chung của nhịp sống hiện đại? Một sáng đặc biệt, với ý định tham gia buổi toạ đàm "Tinh hoa cải lương còn hay mất?" mong phần nào trả lời cho câu hỏi hóc búa này, người viết chợt xúc động khi nghe Nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc mở đầu bằng cách dẫn dắt một chi tiết nhỏ trong truyện ngắn của Nghệ sĩ Hùng Tấn (nguyên Phó giám đốc Nhà hát Trần Hữu Trang) rằng: Trước năm 1975, ở Mặt trận giải phóng miền Nam tồn tại một lệnh bất thành văn: Không được ca vọng cổ vì cho rằng nó uỷ mị, sướt mướt.

Tuy nhiên, có không ít cảm tử quân khi lao vào cuộc chiến biết chắc 9 phần chết đã xin một lời ân huệ cuối cùng là được nghe ca 6 câu vọng cổ. Bởi sau tất cả, khi không có gia đình, người thân thì cải lương trở thành niềm tin để người ta hy vọng vào 1 phần sống còn lại và nó đã trở thành động lực để họ thêm vững bước chân... Cả khán phòng như lắng lại, giữa Sài Gòn - nơi từng là "kinh đô" của loại hình nghệ thuật này, những con người tâm huyết đã cùng ngồi lại để nói về cải lương bằng cả tấm lòng...

Nhà văn, đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc: khi lòng yêu nước còn, cải lương còn

Cẩn thận giở bảng đồ hình chữ S do chính tay mình may trên một chiếc khăn dài, nhà văn bắt đầu lật lại nguồn gốc về cải lương với giọng say sưa. Theo bà, cải lương hình thành nơi vùng đất mới, nơi hội tụ rất nhiều tầng lớp người, có quan triều đình cùng lính thú đàng ngoài; Những người khẩn hoang, tha phương cầu thực xuống vùng đất rộng sinh sống. Trong hành trình đó, ngoài những của cải vật chất mang theo còn có giá trị tinh thần là âm nhạc; Nhạc cung đình của quan lại, nhạc của người Chăm, giai điệu của người sầu xứ, nhớ quê. Những bài oán cất lên, người ngồi trên bờ kinh bắt con cá lóc nướng trui cùng hát với nhau, rồi tiếp đến có người đem tới cây đèn măng sông để lên bộ phản gõ thành ca tài tử, vừa ca vừa đờn. Sau đó, người ta nhận thấy hát phải thể hiện bằng động tác tay chân, tiếp một bước thành ca ra bộ và dần phát triển thành nghệ thuật cải lương sau này.

Nghệ thuật hát bội đã xuất hiện rất lâu, du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 13 khi tên tù binh Lý Nguyên Cát trong đội quân Mông Cổ bị bắt lại đã dạy cho thân vương nhà Trần nghệ thuật hát bội. Ban đầu ở miền Bắc rồi đến miền Trung phát triển thành kiểu khác gọi là tuồng, rồi vào miền Nam do nhóm phản Thanh phục Minh lại phát triển thành kiểu khác, chuyên diễn những tuồng tích xưa của Tàu. Khi Pháp xuất hiện đã mang kịch nói phương Tây du nhập vào và nguyên nhân xuất phát cải lương buổi ban đầu hình thành không ngoài lòng yêu nước, muốn Việt Nam có loại hình nghệ thuật sân khấu riêng của mình, tổng hợp cái hay ho của hát bội, nghệ thuật viết kịch chương hồi của Pháp, cùng xúc cảm của đờn ca tài tử để làm nên loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương. Điều đặc biệt của loại hình này là vừa mở vừa đóng, đóng với truyền thống, mở với hiện đại. Mở ra với nhạc phương Tây, có thể làm tuồng Tàu, Mỹ, Ấn Độ... rồi loại hương sa, diễm tình, tưởng tượng... sẵn sàng dung nạp và chấp nhận tất cả cái hay của thế giới như: twist, rock, ráp... Qua đó có thể lý giải tại sao nó có sức lan toả rộng khắp, hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác.

MC Trác Thuý Miêu (bên trái) và Nhà văn, Đạo diễn Nguyễn Thị Minh Ngọc chia sẻ những vấn đề xoay quanh “Tinh hoa cải lương còn hay mất”?.

"Chính vì cải lương xuất phát từ lòng yêu nước nên khi lòng yêu nước còn thì cải lương sẽ còn. Cái chúng ta cần hiện tại là phải đầu tư vào khán giả, nói một cách đơn giản là đầu tư vào giáo dục, bởi đó là những đồng nghiệp tương lai, khán giả tương lai của chúng ta. Nếu không rót từ từ những thẩm mỹ về cải lương thì dần dà người ta không thấy đó là máu thịt nữa. Còn khi nghĩ chuyện trước mắt chỉ là giải quyết phần ngọn thôi", Nhà văn, Đạo diễn Minh Ngọc nhẹ nhàng nhắn nhủ.

NSƯT Vũ Luân: Cải lương không chết

Là lớp nghệ sĩ thuộc thế hệ 7X, tiên phong làm sân khấu xã hội hoá và duy trì suốt 20 năm qua, NSƯT Vũ Luân khá tự tin khi khẳng định rằng: Cải lương không chết, cải lương cũng không mất. Bằng giọng chân thành, anh cho biết, trong những năm cải lương sa sút, từ khoảng đầu thập niên 90, tất cả anh chị em nghệ sĩ đổ xô quay video. Thời đó video rất thịnh, ngay cả thế hệ trẻ cũng đầu tắt mặt tối tới 3-4 giờ sáng mới ra khỏi phòng thu, nghỉ vỏn vẹn vài tiếng lại tiếp tục ra hiện trường bấm máy. Băng đĩa thịnh hành, sân khấu cải lương bán vé hàng đêm vắng bóng, khán giả không còn tha thiết đến rạp nữa bởi vì có thể coi cải lương ở nhà, thoải mái lựa chọn, chính vì thế sân khấu dần mai một đi.

Trước tình hình này, anh suy nghĩ tìm mọi cách để sân khấu sống lại, bởi có sân khấu mới có thế hệ trẻ, sẵn sàng bỏ những show diễn xa. Anh là nghệ sĩ đầu tiên mạnh dạn bắt tay làm sân khấu xã hội hoá năm 1999. Suốt 20 năm, địa điểm này luôn nhận được nhiều tình cảm, ủng hộ của khán giả, báo chí, nghệ sĩ cháy hết mình qua các suất diễn... Tất cả góp phần mang lại thành công ngoài sự mong đợi. "Khi làm sân khấu xã hội hoá, đa phần chúng tôi chỉ hát những tuồng cũ của cô chú, anh chị đi trước nhưng vẫn có thể bán hết vé. Qua đây mới đúc kết là cải lương không chết, quan trọng là những con người của cải lương làm như thế nào để cải lương sống thôi. Đó là câu hỏi lớn", NSƯT Vũ Luân tâm tình.

NSƯT Vũ Luân và NS Phương Hồng Thuỷ làm nức lòng khán giả khi thể hiện lại tác phẩm kinh điển “Lan và Điệp” của Soạn giả Loan Thảo.

MC Trác Thuý Miêu: Cải lương là sơn hào hải vị hay... cơm tấm vỉa hè?

Đặt bản thân không phải vai trò của nghệ sĩ sáng tạo mà là đối tượng thụ hưởng cải lương, MC chia sẻ: Khi nghe cải lương vừa thương lắm mà cũng giận lắm. Giận khi tất cả những kỷ niệm của thế hệ của chị có được về cải lương đó là rạp hát đi vào thời kỳ bỏ hoang. Đầu thập niên 90, các ngôi sao một thời, một là không chịu được áp lực của đời sống nghệ thuật, hai là phải chạy theo quay video với thủ pháp diễn xuất mới đó là..."nhép" theo giọng của chính mình. Tư duy chiếm hữu của thị dân Sài Gòn bắt đầu hình thành chiếm luôn các giá trị văn nghệ, video thịnh hành, nhà nhà, người người đều thích bởi thưởng thức nghệ thuật tiện lợi như mua bó rau, nghệ sĩ tồn tại trong nhà, ti vi màn hình màu thay cho trắng đen, có ngoại cảnh hấp dẫn, thích giờ nào mở coi giờ đó. 

Với mong muốn góp sức vực dậy cải lương, thời gian gần đây gánh hát Phụng Hoàng Ban do Trác Thuý Miêu sáng lập đã tạo được điểm nhấn nổi bật. Có nhiều loại hình nghệ thuật trong mỗi chương trình như minh hoạ, hát bội, đờn ca tài tử, cải lương, lượng vé bán được trên 80% luôn là người trẻ, có khán giả ra khỏi rạp khóc nức nở với chị rằng: Cô ơi! Con chưa bao giờ thấy được rạp hát, không biết rạp hát là cái gì. Đó là minh chứng cho thấy người trẻ vẫn thương cải lương ghê lắm.

MC Thuý Miêu thẳng thắn, khi nói về cải lương chúng ta đang tuỳ nghi nói về bảo tồn bảo tàng, đang mơ mộng đến những rạp hát... nhưng thuộc tính của loại hình này phải được đi xuống đường. Bởi bất cứ môn nghệ thuật nào mang thuộc tính chịu chơi, sống đâu cũng được thì nó sẽ sống. Đối với cải lương, nếu chúng ta cứ mãi dựa vào những cơ sở hạ tầng, mang tính vật chất như nhà hát sân khấu thì tôi e rằng đang chứng kiến những ngày cuối cùng của nó.

"Từ thập niên 90 đến nay hầu như những tác phẩm có giá trị người ta chỉ tìm đến những tác phẩm kinh điển, chữ kinh điển được sơn son thếp vàng lên tài sản cải lương. Trong khi cải lương có nghĩa là cải cách, canh tân, không chỉ nằm trong khúc thức học thuật hay đưa tân nhạc vào như tân cổ giao duyên, đưa hồ quảng vào ký âm phương Tây, mà đòi hỏi sự cách tân ở đây là cách tân trong tư duy của người làm nghệ thuật và cách tân trong nền tảng. 

Xoay quanh nội dung thực ra tinh hoa nghệ thuật này còn hay mất, khẽ nhìn quanh khán phòng, số đông ánh mắt chăm chú lắng nghe là những người trẻ. Tiếng vỗ tay cứ nối tiếp vang lên khi đờn xuống chữ "hò" câu vọng cổ rồi hoà quyện cùng thanh âm của người nghệ sĩ, chợt an tâm gật đầu: À, cải lương không chết thật. Nhưng để nó "dễ sống" như lời chị Trác Thuý Miêu, phát triển theo cách làm "xã hội hoá" như NSƯT Vũ Luân hay tự tin khẳng định cải lương tồn tại song song với lòng yêu nước trong mỗi người theo cách nói của Nhà văn, Đạo diễn Minh Ngọc, đó còn là một câu chuyện dài đòi hỏi trách nhiệm chung. Bởi từ lâu rồi, tinh hoa cải lương có là của riêng ai bao giờ?./.

Trần Hoàng Phúc

Sla Tho - Nét thiêng trong văn hoá Khmer

Trong các dịp lễ hội, cưới hỏi hay nghi thức tôn giáo của đồng bào Khmer Nam Bộ thường có những tháp hoa rực rỡ được tạo tác tỉ mỉ từ thân cây chuối và hoa, đặt trang trọng nơi bàn thờ. Đó chính là Sla Tho - vật phẩm cúng dường quan trọng bậc nhất, được xem là "linh hồn" trong đời sống tâm linh của người Khmer.

Lịch sử chạm đến trái tim qua phim “Mưa đỏ”

Không khí tại sân Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cà Mau tối 1/12 trở nên lắng đọng khi gần 500 cán bộ, giảng viên và học viên cùng hoà vào những cung bậc cảm xúc của bộ phim điện ảnh “Mưa đỏ”.

Lung linh sắc màu Giáng sinh

Khi những cơn gió se lạnh ghé qua, nhiều quán cà phê trong tỉnh Cà Mau bắt đầu khoác lên mình sắc màu rực rỡ của Giáng sinh, thu hút đông đảo giới trẻ đến vui chơi, chụp ảnh, check-in. Những năm gần đây, xu hướng trang trí Giáng sinh sớm không chỉ tạo không khí ấm áp mà còn mang đến cảm giác háo hức, vui tươi, tạo không gian rộn ràng suốt mùa lễ hội.

Đoàn famtrip quốc tế khảo sát du lịch Cà Mau

Chiều 28/11, đoàn famtrip quốc tế gồm hơn 30 doanh nghiệp lữ hành đến từ Malaysia và Philippines đến tham quan, khảo sát một số điểm du lịch đặc trưng của Cà Mau. Tham gia đoàn còn có đại diện Liên Chi hội Lữ hành Việt Nam, Hiệp hội Du lịch đồng bằng sông Cửu Long cùng các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài tỉnh.

Ý nghĩa tháp thờ hài cốt trong văn hoá Khmer Nam Bộ

Trong không gian tâm linh thanh tịnh của các ngôi chùa Khmer Nam Bộ, bên cạnh chánh điện, sala uy nghi, người ta thường bắt gặp những dãy tháp nhỏ với kiến trúc tinh xảo. Đó chính là khu vực tháp cốt - nơi an nghỉ của những người đã khuất, đồng thời là biểu tượng sâu sắc của nghĩa tình và lòng hiếu thảo.

Chùa Minh - Di sản của người Minh Hương

Chùa Minh là di sản kiến trúc nghệ thuật quý giá, nơi "giữ lửa" cội nguồn và là biểu tượng tinh thần vững vàng của cộng đồng Minh Hương nơi vùng đất phương Nam.

  Trân trọng từng khoảnh khắc

Hiện làm công việc kinh doanh nhưng rất có duyên với ảnh nghệ thuật, nhìn lại quá trình sáng tác, Nghệ sĩ Nhiếp ảnh (NSNA) Bùi Việt Ðức chia sẻ, nhiếp ảnh đến với anh bắt nguồn từ sở thích đi du lịch, trải nghiệm cuộc sống.

Lan toả giá trị văn hoá các dân tộc

Được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2010, Chi hội Văn học - Nghệ thuật (VHNT) các Dân tộc, thuộc Liên hiệp các Hội VHNT tỉnh Bạc Liêu (cũ), từ 7 hội viên ban đầu, đến nay phát triển được 34 hội viên (33 hội viên dân tộc Khmer, 1 hội viên dân tộc Hoa), hoạt động ở nhiều chuyên ngành như: sáng tác, nghiên cứu, biểu diễn...

Anh Kim Văn Đồi - Nghệ nhân nhạc cụ đa tài

 Được biết đến là một nhạc công cừ khôi của Đoàn Nghệ thuật Tổng hợp Khmer - Nhà hát Cao Văn Lầu, anh Kim Văn Đồi không chỉ sử dụng thành thạo hầu hết các loại nhạc cụ truyền thống của đồng bào Khmer mà còn chế tác được nhiều loại nhạc cụ dân tộc khác nhau từ các chất liệu như: gỗ, da, đồng, sắt… phục vụ cho các buổi biểu diễn của Đoàn.

Phật giáo Nam tông Khmer: Lan toả nét đẹp đạo và đời

Từ ngàn xưa, đạo Phật gắn liền với triết lý từ bi, cứu khổ, hướng con người đến điều thiện. Không chỉ nuôi dưỡng đời sống tâm linh, Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng còn khẳng định vai trò tích cực trong chăm lo an sinh xã hội, góp phần xây dựng cuộc sống bình an, hạnh phúc cho Nhân dân.