Thứ bảy, 15-8-26 07:40:14
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Xưởng phim Tây Nam Bộ

Báo Cà Mau Tôi về công tác tại Xưởng phim Tây Nam Bộ vào năm 1970, khoảng 8 năm sau khi xưởng phim được thành lập. Thực ra, đơn vị này có 2 tên. Một là: “Xưởng phim Giải phóng Tây Nam Bộ” ghi ở đầu phim để định danh nơi sản xuất, bởi vì phim thời sự lúc đó còn có Hãng phim Thời sự tài liệu Trung ương (Hà Nội) và Xưởng phim Giải phóng (Cục Ðiện ảnh miền Nam). Hai là: Tiểu ban Ðiện ảnh (19A, C9) thuộc Ban Tuyên huấn Khu Tây Nam Bộ, cùng với nhiều Tiểu ban khác như: Tuyên truyền, Thông tấn - Báo chí, Văn nghệ... Cũng cần nói rõ thêm là bộ phận nhiếp ảnh khi thì thuộc Tiểu ban Ðiện ảnh (C9), lúc thì thuộc Tiểu ban Thông tấn - Báo chí (C8). Chẳng hạn khoảng 5 năm tôi công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh thì nhiếp ảnh thuộc Tiểu ban Thông tấn - Báo chí (C8).

Khi mới thành lập Tiểu ban Ðiện ảnh cũng như thời gian trú ngụ dài nhất của đơn vị này là ở rạch Xẻo Cùi, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Cũng dễ giải thích điều này, vì Năm Căn là vùng rừng đước bạt ngàn mà căn cứ cách mạng trú ngụ suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ban Tuyên huấn Khu Tây Nam Bộ hình thành ở khu căn cứ ấy thì các tiểu ban cũng xuất hiện tại đây.

Theo các tư liệu còn lưu trữ thì Xưởng phim Tây Nam Bộ có khởi đầu là những Tổ triển lãm ảnh và ảo đăng (rọi to những tấm phim chụp lên tấm màn giấy hoặc vải). Dần dần, các đội chiếu phim hình thành để phục vụ ngày càng nhiều cho bộ đội và đồng bào. Phim chiếu lúc đó hầu hết là phim truyện và phim tài liệu do Hà Nội gửi vào hoặc phim tài liệu từ Cục Ðiện ảnh miền Nam (Tây Ninh) gửi xuống.

Khi nắm bắt được nhu cầu của Nhân dân và bộ đội là muốn xem thời sự của xứ mình, lãnh đạo Tiểu ban Ðiện ảnh quyết định sản xuất phim gồm: những cuốn thời sự tổng hợp nhiều mẫu, phóng sự, tài liệu. Thực ra đó cũng chỉ là phim “câm” (hình ảnh động, không lời, không tiếng động, không nhạc). Khi chiếu phim lên màn vải trắng, có người nhìn cảnh rồi đọc thuyết minh theo hình ảnh. Vậy mà được hoan hô, vỗ tay quá chừng! Có lẽ vì đó là “chuyện của xứ mình”.

Nói là phim “câm”, nhưng để làm ra nó không hề dễ dàng chút nào.

Trước tình hình khó khăn, ác liệt, bộ phận Nhiếp ảnh Khu 9 phải làm những bộ ảnh gọn nhẹ mang đến tận công sự, hầm tránh pháo ngoài đồng để phục vụ dân, góp phần đem lại niềm tin cho mọi người. Ảnh tư liệu

Trước tình hình khó khăn, ác liệt, bộ phận Nhiếp ảnh Khu 9 phải làm những bộ ảnh gọn nhẹ mang đến tận công sự, hầm tránh pháo ngoài đồng để phục vụ dân, góp phần đem lại niềm tin cho mọi người. Ảnh tư liệu

Những năm tôi công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh Tây Nam Bộ, đơn vị này có khoảng 40 người, trong đó: chiếu phim 12 người (3 đội), hậu kỳ 3 người, lãnh đạo 2 người, hành chánh và tài vụ 1 người, còn lại là quay phim (quay chính và phụ quay). Như vậy, lực lượng quay phim là đông nhất, mỗi đội quay gồm 2 người. Phân công là vậy, nhưng có những công việc, người này cũng làm choàng cho người kia được cả.

Về thiết bị và nguyên liệu để sản xuất phim, lúc ấy tôi chỉ biết loáng thoáng là: Một nguồn từ Hà Nội và Cục Ðiện ảnh miền Nam chi viện, một nguồn khác do cơ quan nhờ người ra thành thị mua. Mà biết loáng thoáng là phải rồi, chiến tranh thì việc ai làm nấy biết. Nghe đâu, có người đàn ông ra thành thị mua hoá chất làm phim cho cơ quan bị địch bắt. Sau này, tôi còn nghe em Lê Lệ Hồng, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Cà Mau, kể lại chuyện em bị địch bắt (cùng với chiếc ghe chở vũ khí, máy chiếu phim, máy quay phim...) khi em là giao liên công khai.

Các đội quay phim (quay chính và phụ quay) thường được lãnh đạo phân công đi các tỉnh thuộc Khu Tây Nam Bộ. Ở một số chiến trường trọng điểm, có lúc từ 1-3 đội. Cả Xưởng phim, duy nhất có đội quay phim nữ gồm: đội trưởng Nguyễn Thuý Liễu (quay chính) và Ngô Hoàng Giang, là tôi (phụ quay). Ðội quay phim nữ không được phân công đi chiến trường có lẽ vì được “cưng”. Thực ra, có 1 nữ quay phim chính đã hy sinh ở lộ Vòng Cung Cần Thơ năm Mậu Thân (1968). Còn lại 1 nữ quay phim chính là chị Liễu đến khi tôi về công tác tại đây. Ðội nữ lúc này chỉ quay phim các cuộc mít tinh, xây làng chiến đấu, thanh niên tòng quân, đóng đảm phụ... Tuy đội nữ quay phim chỉ thực hiện những mẩu thời sự hậu phương nhưng cũng xém chết bao lần. Trong đó có chuyến quay phim xây làng chiến đấu ở xã Ba Viễn (nay là xã Tân Tiến, huyện Ðầm Dơi, tỉnh Cà Mau). Sau khi chị Liễu cùng cán bộ địa phương xác định điểm quay và vận động bà con xong thì địch đổ quân rất nhanh tại hiện trường. Hồi ấy gọi là “trận nhảy dò” - bầy trực thăng bắn rát rồi ập quân xuống luôn. May là lính đóng quân cách chỗ 2 chị em chừng 1 km, nên chờ đêm xuống, 2 chị em chèo xuồng về cơ quan, lúc đó ở rạch Sọ Ðầu trong cánh rừng đước ven kinh Ông Ðơn.

Các đội quay phim nam thì sự nguy hiểm còn gấp nhiều lần hơn. Có lần họp với các đội quay phim, chú Bảy Triển (Lê Châu), thủ trưởng cơ quan, nói: “Người quay phim còn phải dũng cảm hơn cả bộ đội. Bởi vì, bộ đội đứng dưới công sự, núp gốc cây hay bờ đất cũng bắn trúng giặc. Còn quay phim mà như vậy thì làm sao có những cảnh hay, chân thật, rõ ràng...”.

      Có lẽ vì nhiệm vụ thiêng liêng ấy mà mỗi người quay phim đã trở thành một chiến sĩ, kể cả là... liệt sĩ. Theo danh sách lưu giữ, năm Mậu Thân (1968) có khoảng chục chiến sĩ quay phim ngã xuống. Còn những năm tôi công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh, có một lễ truy điệu tại cơ quan (rạch Sọ Ðầu - kinh Ông Ðơn) cứ ám ảnh khôn nguôi. Ðó là lễ truy điệu 2 quay phim chính cùng hy sinh tại trận đánh Chi khu Ngã Năm (Sóc Trăng). Mãi đến bây giờ, 2 liệt sĩ Mai Thanh Liêm và Phạm Minh Tước vẫn không tìm được xác...

Thuở ấy, cứ mỗi con nước lớn vào ban đêm mà nghe tiếng khua xuồng chèo lụp cụp thì cả cơ quan thức dậy xem đội quay nào về...

Giờ, nói sang chuyện hậu kỳ phim. Trước kia thì không rõ, nhưng khi tôi về công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh (năm 1970) thì tất cả học theo cách truyền nghề (người đi trước dạy người đi sau). Gọi là lớp đào tạo quay phim (chỉ có 7 người), do anh Trần Thanh Hùng, thủ phó cơ quan, hướng dẫn. Tôi vừa học quay phim vừa học in, tráng phim cùng 2 bạn nữ, do chị Liễu hướng dẫn. Sợ nhất và khổ tâm nhất là làm hư phim gốc (phim quay xong chuẩn bị đưa vào thuốc hiện hình). Công đoạn dễ bị hư, mà hư thì vô phương cứu chữa. Ðó là khi quấn phim vào khung trong bóng tối, hoàn toàn tối đen, chỉ bằng cảm giác của ngón tay. Ðoạn phim chồng lên nhau thì thuốc không vào được, hình không lên - bỏ. Nếu đó là những cảnh thuộc về chiến sự thì... ôi trời! Khóc luôn! Những công đoạn khác của hậu kỳ phim không đến nỗi nào, làm chậm thì cố gắng làm nhanh, làm hư thì bị kiểm điểm về “tội” lãng phí. Chỉ có công đoạn khắc nghiệt “quấn phim gốc” mà tất cả đều xem là “xương máu” của các đội quay phim chiến trường.

Còn một chuyện nữa liên quan sự nghiêm ngặt khi hậu kỳ thời ấy nghĩ cũng nên kể lại, đó là nước để tráng phim (phim gốc và phim chiếu). Nguồn nước duy nhất để hậu kỳ phim lúc ấy là nước mưa, phải dự trữ nước mưa đến mức tối đa theo khả năng của cơ quan. Thùng chứa nước mưa được hàn từ tấm tôn rất lớn và sơn đen phía ngoài thùng, mỗi thùng chứa khoảng 2 mét khối. Thùng nước mưa được đặt trên sàn lót bằng cây đước, êm và chắc chắn. Tàu lá dừa nước được cột đuôi vào những cây đước xung quanh và thả cọng tàu lá vào thùng. Nắp thùng nước là tấm lá chầm để lá đước không rơi vào được. Những thùng nước để tráng phim là “bất khả xâm phạm”, chỉ thỉnh thoảng giở nắp thùng xem có vật lạ gì không. Nước sinh hoạt cho cơ quan (uống, nấu ăn, tắm, giặt...) là những cái thùng kém chất lượng hơn, hình như làm từ nguyên liệu thừa của các thùng nước để tráng phim. Mùa mưa thì thoải mái, mùa khô phải ra kinh Ông Ðơn, tìm chỗ “đổi nước” trên đồng về cho sinh hoạt của cơ quan. Tất nhiên, nước trên đồng kinh Ông Ðơn uống thì lơ lớ, còn gội tóc phải pha xà bông bột. Kể chuyện nước tráng phim để nói rằng: thời ấy, phim được “cưng” hơn người.

Có một sự ngây ngô mà tôi không thể nào quên, cũng xin được kể lại... Hôm đó, tôi thấy một anh quay phim chính (Ðội trưởng) cặm cụi đóng cái khung hình chữ nhật bằng cây đước con, rồi móc đất bùn bỏ vô đó. Xong, còn dùng 5 ngón tay vẽ loằng ngoằng mặt bùn. Tôi quan sát mà không hỏi vì sợ bị nghĩ là tò mò, hoặc sẽ bị chọc “quê”. Vậy rồi anh ta bỏ đi đâu cả buổi, tôi thì cứ thỉnh thoảng đi ngang nhìn cái mớ bùn đó. Vẫn không hiểu ra được gì, tôi nghĩ hay anh này có vấn đề về... thần kinh. Ðến khoảng trưa, nắng trong rừng đước toả xuống thành những đốm sáng, lướt qua lướt lại trên mặt bùn thì thấy anh ta xách máy quay phim ra quay. Tôi nghĩ, mấy anh đi quay phim chiến trường riết rồi bị “mát” hay sao? Quay cảnh, quay người thì không quay, mà đi quay bùn? Hoá ra là như vầy... Lấy đoạn phim gốc (quay bùn) in lần thứ nhất lên phim chiếu rồi lấy phim gốc quay bảng vẽ tên phim (nền đen, chữ trắng) in chồng lên đoạn phim gốc quay bùn. Xong, đem đoạn phim chiếu vừa in 2 lần cho vào thuốc, tên phim dần dần hiện lên trên nền “hoa văn màu xám lung linh nhè nhẹ...”, chứ tên phim không hiện ra chữ trắng trên nền đen thui... A..., ra là vậy! Cũng phải mất đôi ba ngày để hoàn thành công đoạn tạo phông nền cho tên phim. Vậy đó!

Hồi đó...! Giới trẻ bây giờ hay nói với nhau là ai mà hay nói “hồi đó...” là già rồi đó! Có lý! Tôi cũng thuộc thế hệ “hồi đó...” rồi! Thôi thì khi có dịp, tôi cũng xin được góp một đoạn rất ngắn “hồi đó...” vào chặng đường dài của báo chí cách mạng ở Cà Mau.

TP Hồ Chí Minh, tháng 3/2025

Nhà báo Ngô Hoàng Giang

Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài cuối: Trách nhiệm và sự vào cuộc đồng bộ

Qua đánh giá kết quả đạt được và nhận diện các điểm nghẽn trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng, yêu cầu đặt ra đối với Cà Mau hiện nay là phải triển khai đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Trong đó, sự quyết liệt của các cấp, ngành, trách nhiệm của đội ngũ thực thi và sự đồng thuận của người dân là những yếu tố quyết định để tạo mặt bằng sạch, mở không gian phát triển.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển - Bài 2: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ

Bên cạnh kết quả tích cực trong thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thực tế quá trình triển khai công tác này tại Cà Mau cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần sớm khắc phục. Từ những bất cập trong xác định giá đất, lập phương án bồi thường, đến hạn chế về năng lực của đội ngũ thực thi ở cơ sở... đang ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ một số dự án, đòi hỏi các cấp, ngành phải có giải pháp quyết liệt và đồng bộ hơn.

“Chìa khoá” mở không gian phát triển

LTS: Công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định tiến độ triển khai các công trình, dự án, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và được xem là “chìa khoá” mở ra không gian phát triển mới cho địa phương. Tuy nhiên, tại Cà Mau, quá trình thực hiện công tác này vẫn còn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, nhất là sự đồng thuận, ủng hộ từ phía người dân.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.