Thứ bảy, 17-1-26 21:24:18
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ăn Tết ở làng rừng

Báo Cà Mau Tôi đang mở trường tư thục, dạy trên 150 học trò. Bí thư Chi bộ xã Lương Hoà là đồng chí Tư Tài, đem nghị quyết Tỉnh uỷ Bến Tre rút tôi về Ban Văn nghệ tỉnh. Chưa kịp thu xếp đi, thì má tôi (bà Hồ Thị Luỹ) ở Cà Mau qua tới. Má tôi chẻ trái chuối xiêm ra, đưa cho tôi lá thư ngắn của anh Hai Thống (Trần Hữu Vịnh, Bí thư xã Khánh Bình Tây, sau này là Phó bí thư Tỉnh uỷ Minh Hải) kèm theo mấy lời chú Chín Thép, Uỷ viên Thường vụ xã (viết chung ý là “Đám giỗ làm lớn cúng ông bà, chú phải về quê nhà để cúng ông bà báo hiếu”).

Tiết mục múa “Tay cày tay súng” do biên đạo múa Võ Thanh Hồng dàn dựng (30/10/1972). Ảnh tư liệu

Tiết mục múa “Tay cày tay súng” do biên đạo múa Võ Thanh Hồng dàn dựng (30/10/1972). Ảnh tư liệu

Tôi thu xếp mọi thứ trong một ngày đêm, cho má tôi về Cà Mau trước. Sáng hôm sau anh tôi đem xe lam pết-ta, ăn mặc sang trọng như công chức, qua Lương Hoà rước tôi từ Bến Tre tìm xe về Cà Mau. Lính nguỵ thấy chúng tôi sang trọng nên chúng không hỏi han, ngăn cản gì. Chiều 22 tháng Giêng, tôi vào tới Làng rừng Khánh Bình Tây (ấp Sào Lưới - Mũi Tràm).

Thấy tôi ăn mặc, đi giày, đội nón trắng, anh em trinh sát của ta báo có một tên Việt gian xâm xâm vô làng rừng. Ðến chừng gặp nhau, mừng vui sao kể xiết! Chú Chín Thép vỗ đầu tôi: “Có cháu về, phong trào thanh niên sẽ lên cao”. Anh Hai Thống nhìn tôi, xúc động: Các cháu con tôi thường nhắc chú...

Sau đó, Tư Giàu, Hai Ðá, Ba Hồng, Tư Thoại, Dinh... những bạn bè, cũng là những đoàn viên, là học trò cũ của tôi mấy năm trước chạy lại mừng vui, ôm tôi mà rưng rưng nước mắt.

Chú Chín Thép liền phổ biến kế hoạch mừng Tết Làng rừng Khánh Bình Tây Canh Tý (1960) có mời làng rừng bạn, Huyện uỷ và Tỉnh uỷ Bạc Liêu, mời các cơ quan huyện, tỉnh ở gần làng rừng mình... chuẩn bị cho hơn 150 khách (hoặc 200 khách).

Anh Hai Thống đề nghị mời hết anh em vào phòng khách, uống trà, ăn bánh trò chuyện, phân công nhau kỹ hơn và chọn chòi nóc vỏ tràm cho chú Bá ở, bố trí cho chú gặp lại cô Út Chúc nhân Tết này.

Tôi bước qua mấy trảng choại, bồn bồn được hàng ngàn cây tràm cổ thụ cao vút đổ bóng che chắn cho máy bay địch không phát hiện được nơi ở của ta. Ngày nào L19 (máy bay trinh sát của Mỹ, mà bà con ta gọi là đầm già) cũng quần đảo, phóng pháo, nhưng ta vẫn lặng im để chúng không phát hiện.

Ðến một nhà khách cao lớn, mát mẻ, lợp vỏ tràm, ván tràm đóng chung quanh theo nghệ thuật xây đình chùa Việt. Anh Hai Thống nói, ta đã xây cất xong hội trường ngồi đủ 200 người, có sân khấu biểu diễn văn nghệ ca vũ, và có bục đặt micro để lãnh đạo diễn thuyết...

Ta lót ván tràm làm sân khấu cho đoàn văn công tập dượt các bài múa vũ Liên Xô, Trung Quốc và Tây Nguyên. Nhà nấu ăn, nơi chống khói, nước rửa chén bát, nguồn nước sạch, kể cả cầu vệ sinh... cũng được chuẩn bị chu đáo, đảm bảo an toàn, vệ sinh cho tất cả khu Làng rừng Khánh Bình Tây.

Tư Giàu, Hai Ðá nói: Khi anh đi Sài Gòn, chúng tôi vô làng rừng với 200 anh em khác vác lúa gạo cho làng rừng. Nhưng vác lội 2, 3 lần đường cũ bị lầy phải đạp đường mới. Nhưng tuổi trẻ Khánh Bình như anh Phan Minh Tánh (sau này là Bí thư Khu đoàn Tây Nam Bộ) nói: “Nhanh như máy bay, xoay như chong chóng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành”.

Lúc anh Hai Thống và chú Chín Thép bảo tôi từ giã bạn bè để đưa tôi vào căn chòi vỏ tràm nhỏ gọn mới làm xong chiều qua. Tôi đi trên cây tràm lớn, được anh em hạ ngã xuống nối nhau làm đường đi tới lui, liên lạc các cụm chòi làng rừng. Anh Hai và chú Chín bảo tôi vô chòi ngồi trên ghế chờ họ đưa Út Chúc tới. Tôi nhớ, khi hát bài “Hồ Chí Minh - Cha chúng ta về” để đón chào Trưởng ty Giáo dục Bạc Liêu đến thăm trường Nhà Máy (năm 1957), Trà Thị Chúc mới có 15 tuổi. Lát nữa đây tôi sẽ gặp cô gái xinh đẹp 18 tuổi.

Chiều ấy, ánh hoàng hôn từ vịnh biển Thái Lan xuyên qua rừng tràm và dớn choại, chiếu vào căn chòi. Tôi và Út Chúc đang ngồi chuyện trò, ráng chiều xuyên qua chúng tôi. Tôi hỏi, bao người thân ai còn ai mất và sẽ quyết tâm trả thù. Chúng tôi nói chuyện cho tới khuya. Tôi dùng đèn pin co đưa Út Chúc về mà lòng cứ vấn vương.

Hôm nay còn 9 ngày nữa là ăn Tết làng rừng. Ban tổ chức cần tới 5 cưa xả mới đủ gỗ tràm lót sàn chứa 200 người và khán đài, phòng trà, phòng nghỉ cho 100 nữ đàng hoàng (chỗ tắm rửa, giặt giũ chu đáo).

Than để nướng thức ăn cho khách phải dự bị 1 tấn than, 500 con tôm càng lớn, 500 con cá lóc cơi, 5 lít mật ong để pha nước mắm và thấm thịt nướng, nấu ca ri 5 con trăn (mỗi con 30 kg), 2 con heo rừng, 3 con nai (những vật thực này do chú Hai thợ săn (kinh Lung Tràm) và chú Tám Mật ở rạch Giồng Ông cho).

Cá chẽm, cá ngát, cá biển, ruốc, tôm tép do anh em ghe cào lưới (Sào Lưới, Mũi Tràm, Ðá Bạc đem cho). Bánh tét, bánh ít, bánh ú nước tro do chị Tư Lèo vận động bà con ở Công Nghiệp, Rạch Lùm gửi cho 5 xuồng. Nước đá và Lavie (bia) chai do Hai Huệ, đoàn tàu viễn dương đi tàu hai đáy vượt biển gởi tặng từ bãi biển Mũi Tràm.

Cờ sao Tổ quốc và cờ Ðảng do đồng chí Năm Bằng, Phó bí thư Huyện uỷ, Trưởng ban Quân sự tỉnh chỉ huy; hình ảnh lãnh tụ Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông... ta có đủ.

Tất cả các loài hoa phù hợp với ngày Tết làng rừng đều được học trò cũ của ấp Nhà Máy chọn hoa và rọng cho hoa tươi sống lâu để trưng dịp Tết làng rừng.

Cho dù L19 luôn soi mói quần đảo, nhưng cách nghi trang khéo léo của ta làm chúng không phát hiện được. Chiều 29 Tết, chúng phóng pháo rồi về.

Từ 2 giờ sáng, bác Hai Sơn và bác Sáu Ðạt đã giục Hai Ðông thức dậy lấy máy Kole 7 đặt lên xuồng be chín chạy xuống làng Trương Phùng Xuân, quẹo vô kinh Làng rừng Khánh Bình Tây. Nước dưới kinh bị máy Kole 7 ép xô ào ào hai bên mé. Sương đêm và mạng nhện vướng vào đầu cổ hai ông già, nhưng xuồng máy cứ việc rấn lên như bay tới. Tờ mờ sáng là Hai Ðông đã đưa hai ông cụ tới nơi. Chú Chín Thép và anh Hai Thống hiểu ý nên nấu nước châm trà, mời hai ông cụ lên phòng khách.

1 giờ sau mới tới xuồng chị Út Bình, chị Sáu Nữ - phụ nữ khu, chị Ba Dân, chị Tư Hiên - phụ nữ huyện Trần Văn Thời. Ðội vệ sĩ chạy qua rạch Công Nghiệp rước chú Sáu Thinh (chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa).

10 giờ trưa hôm đó, 5 vỏ lãi chở các anh, các chú Bí thư Huyện uỷ Ba Biền, Phó bí thư Chín Cư, anh Ba Ngọc, anh Tư Văn, anh Chín Khung (Văn phòng Huyện uỷ); Tư Ninh, Năm Tâm (Ðội bảo vệ Huyện uỷ)... Từ xã Khánh An qua, có anh Ðoàn Thanh Vị (sau này là Bí thư Tỉnh uỷ Minh Hải) chở 1 xuồng 9 người; xã Nguyễn Phích, anh Năm Sa cũng đến 1 xuồng máy 9 người, mặt ai cũng tươi như hoa; xuồng máy ở Làng rừng Thới Bình chở 15 người cũng vừa kịp đến...

Theo quy định của Ban Chỉ đạo, khu vực làng rừng năm 1959 xã Khánh An đã ăn Tết lớn một lần, Tết năm nay (năm 1960) Làng rừng Khánh Bình Tây ăn Tết lớn một lần này rồi Ðồng khởi.

Công tác chuẩn bị đã hoàn thành, 12 giờ chào cờ hành lễ. Ban Chỉ huy Huyện đội thực hiện nghi thức chào cờ, mặc niệm liệt sĩ và tất cả hướng về chân dung Bác Hồ. 3 đoàn văn công thay nhau múa hát trong 2 giờ liền, có tiết mục nghệ sĩ Út Chúc hát bài: “Hồ Chí Minh - Cha chúng ta về”, giọng xúc động, lời bài hát thiêng liêng.

Sau đó, các cán bộ lãnh đạo nói về Ðảng, Bác Hồ, công việc kháng chiến, sự tuyệt vời và bất hủ của Làng rừng U Minh - Cà Mau... Dịp Tết Canh Tý năm 1960 được tổ chức tại Làng rừng Khánh Bình Tây mãi là dấu ấn khó phai mờ./.

 

Nguyễn Bá

 

Thăm căn cứ xưa

Một sáng cuối năm 2025, tôi và anh Phạm Thạnh Trị - đồng đội từng công tác tại Văn phòng Tỉnh uỷ từ cuối năm 1960-1975, được anh Lê Minh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau, mời về thăm lại Di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước (ấp Xẻo Ðước, xã Phú Mỹ), nhắc nhớ ký ức những năm tháng sống và làm việc ở nơi này.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.