ĐT: 0939.923988
Chủ nhật, 19-5-24 08:15:59
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Bảo vệ môi trường biển - Bài 2: Nguy cơ và thách thức

Báo Cà Mau Dù đã có nhiều giải pháp được triển khai, nhưng nhìn tổng thể, công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại Cà Mau vẫn còn nhiều khó khăn. Nhiều nguy cơ tiềm ẩn chưa được xử lý triệt để, ý thức bảo vệ môi trường của người dân vùng ven biển hạn chế. Thêm vào đó là nguồn lực cho hoạt động này được đánh giá là chưa cân xứng với thực tế cần triển khai, nên phần nào ảnh hưởng đến tính hiệu quả của công tác.

Tiềm ẩn nhiều nỗi lo

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau, trên địa bàn tỉnh có 1 cơ sở khai thác dầu khí nằm ở khu vực ngoài khơi Cà Mau, thuộc Tổng Công ty Thăm dò khai thác dầu khí, với lượng nước thải sản xuất khoảng 3.000 m3/ngày đêm, việc xả thải của đơn vị này khó kiểm soát do nằm ở ngoài khơi. Các phương tiện khai thác thuỷ sản xả thải dầu nhớt, bọc ni lông, sản phẩm phụ, ngư cụ đã qua sử dụng... trực tiếp trên biển, khai thác khu vực ven bờ làm ảnh hưởng đến môi trường biển. Ngoài ra, lượng lớn rác thải từ biển trôi dạt vào bờ biển, các khu rừng ngập mặn, vườn quốc gia… nhưng do thiếu nguồn lực thu gom, vận chuyển, xử lý, gây ảnh hưởng đến môi trường, hệ sinh thái khu vực ven biển của tỉnh.

Đối với các nguồn thải từ đất liền, ven biển, hiện trạng môi trường nước vùng ven biển vẫn đang an toàn. Tuy nhiên, chất lượng môi trường nước biển ven bờ có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ và tức thời. Điều này cho thấy, tình trạng xả thải từ nội địa (chủ yếu là chất thải nuôi thuỷ sản, chế biến thuỷ sản, sinh hoạt đô thị và dân cư tập trung) vẫn chưa được kiểm soát tốt.

Cùng với đó, nguồn thải từ các hoạt động nuôi thuỷ sản, các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ, khu vực không có hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các cửa sông, ven biển khó kiểm soát việc xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu gây ô nhiễm môi trường vùng biển ven bờ.

Tại thị trấn Cái Đôi Vàm, người dân sinh sống bằng nghề khai thác, nuôi, chế biến thuỷ sản và mua bán kinh doanh. Do nhận thức của một bộ phận người dân địa phương còn hạn chế nên tác động tiêu cực đến môi trường, trong đó có môi trường biển.

Tại một số khu đô thị tập trung ven biển chưa có phương tiện thu gom rác thải sinh hoạt, nên người dân vứt rác bừa bãi, đến nay hình thành những bãi rác tự phát với khối lượng lớn nằm dưới các ao tù, nước đọng, gây ô nhiễm môi trường sống của người dân khu vực. Tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển, ven biển trong thời gian qua rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là khu vực rừng phòng hộ.

Thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân có diện tích tự nhiên 2.257,28 ha, dân số 3.498 hộ (14.362 khẩu), có bờ biển dài 4,8 km. Thị trấn có tổng số tàu khai thác biển 232 chiếc, diện tích đất sản xuất hiện nay là 1.614 ha, đa số người dân trên địa bàn thị trấn sinh sống bằng nghề khai thác, nuôi, chế biến thuỷ sản và mua bán kinh doanh. Theo đánh giá của chính quyền sở tại, lợi thế phát triển kinh tế từ biển là không thể phủ nhận, nhưng hiện tại địa phương cũng đứng trước vấn đề khó xử lý triệt để, là ô nhiễm môi trường. Dù thực tế địa phương cũng đã có nhiều nỗ lực trong công tác này, nhưng kết quả vẫn chưa thật sự đạt như kỳ vọng. Nguyên nhân được nhìn nhận là do hiện nay một số hộ dân chưa có ý thức trong việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng, thường xuyên vứt rác thải xuống sông, kênh rạch và ven biển. Nguyên nhân đa phần các hộ dân sống theo kênh rạch, một số cơ sở thu mua thuỷ sản, sửa chữa động cơ thuỷ chưa đảm bảo việc thu gom chất thải, nước thải. Một số hộ dân nuôi tôm siêu thâm canh xả thải vào ban đêm khiến công tác bảo vệ môi trường của thị trấn gặp nhiều khó khăn…

Ông Nguyễn Đình Triểu, Phó chủ tịch UBND thị trấn Sông Đốc, cho biết: "Sông Đốc là thị trấn biển lớn và sầm uất bậc nhất tại tỉnh Cà Mau, với hơn 7.900 hộ (hơn 32.800 khẩu, có từ 15-20 ngàn khẩu tạm trú). Trên địa bàn có 13.590 phương tiện khai thác biển, hơn 2 ngàn cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Thực tế cho thấy, từ nhiều năm qua nơi đây là một trong những địa điểm khá nhạy cảm về ô nhiễm môi trường. Mặc dù địa phương đã triển khai nhiều giải pháp, nhưng vẫn chưa xử lý hết tình trạng ô nhiễm môi trường. Từ việc rác thải ở khu vực nội địa chưa được quan tâm xử lý triệt để nên ảnh hưởng tiêu cực đến tính hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường tại địa phương.

Tại nhiều địa phương ven biển, nhà ở ven sông, kênh, rạch khá phổ biến, kéo theo tình trạng xả rác thải sinh hoạt trực tiếp xuống sông, ven biển, gây ra tình trạng ô nhiễm hiện nay.

Nhận diện khó khăn

Công tác quản lý, bảo vệ môi trường biển, đảo thời gian qua được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 

Ông Hồ Song Toàn, Phó chủ tịch UBND huyện Trần Văn Thời, cho biết: "Thời gian qua, địa phương luôn quan tâm phát triển kinh tế biển, từ việc đầu tư đến mời gọi đầu tư. Tuy nhiên, khó khăn cần nhìn nhận là vấn đề ô nhiễm đi kèm sự phát triển. Khó khăn đặt ra trong vấn đề này là ý thức chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của một bộ phận Nhân dân còn hạn chế, chưa tự giác chấp hành, chưa ý thức về nguy hại của việc xả thải vào nguồn nước. Cùng với đó là kinh phí để phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường biển còn hạn chế, không có trang thiết bị phục vụ công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý kịp thời các hoạt động gây ô nhiễm môi trường trên biển. Hiện tại, huyện chưa được đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các đô thị, khu dân cư tập trung".

Ông Đỗ Quang Hưng, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, cho rằng: "Hiện quy hoạch không gian biển quốc gia; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ Trung ương chưa ban hành nên địa phương chưa có cơ sở xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển cấp tỉnh, ảnh hưởng đến công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển. Đây cũng là khó khăn lớn trong công tác bảo vệ môi trường thời gian qua".

Ông Hưng cho biết thêm, thời gian qua chỉ quan trắc môi trường nước mặt, nước ngầm, nước mưa, nước biển ven bờ và không khí, mật độ mẫu quan trắc còn thấp, nhất là nước mặt, chưa thực hiện quan trắc phân bố theo từng khu vực sinh thái; chưa tổ chức định kỳ quan trắc, đánh giá đa dạng sinh học của các khu vực biển và hải đảo; điều tra, thống kê, phân loại, đánh giá các nguồn thải từ đất liền, từ các hoạt động trên biển và hải đảo được thực hiện nhưng chưa đầy đủ, thông tin, dữ liệu lạc hậu, còn thiếu nhiều nguồn thải, đặc biệt là rác thải nhựa.

Thực tế cho thấy, nhiều hoạt động gây ảnh hưởng đến môi trường nhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, như chất thải từ hoạt động của các loại tàu trên sông, biển là nguyên nhân ô nhiễm dầu tại các tuyến sông và cảng biển. Các cơ sở sản xuất, chế biến nằm xen kẽ khu dân cư ven biển, khu công nghiệp tập trung chưa có hạ tầng bảo vệ môi trường (cụm công nghiệp Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời tập trung nhiều cơ sở sản xuất, chế biến bột cá ven biển nhưng chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung), nên việc kiểm soát ô nhiễm môi trường gặp không ít khó khăn, khó áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường đồng bộ; công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện bảo vệ môi trường vùng ven biển chưa được thực hiện thường xuyên do không đủ lực lượng, phương tiện để kiểm soát trên biển.

Thị trấn Sông Đốc từ lâu là địa phương nhạy cảm với ô nhiễm, dù tình trạng này có phần giảm hơn so với trước đây nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Không chỉ dừng ở đó, qua phân tích của ngành tài nguyên và môi trường địa phương cho thấy, công tác quản lý, kiểm soát môi trường biển, đảo còn gặp một số khó khăn, một số nhiệm vụ kiểm soát môi trường biển và hải đảo chưa được triển khai thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ. Hiện trạng rác thải vùng ven biển tỉnh Cà Mau chưa được điều tra, thống kê; công tác quản lý rác thải nhựa đại dương hiện nay chủ yếu tập trung vào tuyên tuyền, việc phân loại, thu gom, xử lý còn hạn chế.

Năng lực dự báo, cảnh báo, có phương án thích ứng với biến đổi khí hậu, triều cường, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển còn hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác thông tin tuyên truyền, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển được đầu tư còn hạn chế, nhất là các thiết bị chuyên dùng phục vụ cho việc kiểm soát môi trường biển.

“Hiện nay, các xã, thị trấn ven biển do không thuận tiện giao thông, cũng như chưa được đầu tư xây dựng bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh, nên lượng rác thải phát sinh của hộ gia đình, cá nhân được hướng dẫn phân loại và xử lý tại chỗ bằng biện pháp ủ phân hoặc đốt. Ở các khu dân cư tại các cửa sông, ven biển, người dân chưa thực hiện tốt công tác thu gom và xử lý rác thải (do nhà ở ven sông), tình trạng người dân đổ rác xuống sông vẫn còn xảy ra. Đây cũng là nguyên nhân tồn tại tác động tiêu cực đến môi trường biển trong thời gian qua”, ông Đỗ Quang Hưng cho biết./.

 

Văn Đum

Bài 3: Cần đồng bộ giải pháp và nguồn lực

 

Ngày trở về

Ngày 30/4/1975, tin giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam nhanh chóng vang dội. Khi ấy, tôi đang dạy ở Trường Nội trú học sinh miền Nam Ðông Triều (Quảng Ninh), cả thầy cô và học trò hét vang chiều đó. Tất cả không màng việc ăn uống và cứ thế thau, chậu, nồi nhôm được làm trống gõ, hò hát thâu đêm. Vui, ôm nhau cười, khóc.

Nâng tầm “Cà Mau - Ðiểm đến” - Bài cuối: Mỗi năm thêm đẹp, thêm duyên

Nhìn thẳng, nhìn đúng, trúng tâm điểm vấn đề nội tại của Chương trình “Cà Mau - Ðiểm đến” (Chương trình), ông Trần Hiếu Hùng, Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) Cà Mau, nhìn nhận: “Ban đầu là những bước đi dò dẫm, thử nghiệm, những năm tiếp theo điều chỉnh tính chất, nội dung các hoạt động phù hợp với từng thời điểm, từng đối tượng và tạo nên chuỗi hoạt động trải dài từ đầu năm tới cuối năm. Chính vì vậy, Chương trình dần đổi mới, tạo ra những điểm hấp dẫn hơn để duy trì hệ thống các hoạt động hằng năm, vừa kỷ niệm các ngày lễ lớn, vừa đẩy mạnh phát triển du lịch”.

Nâng tầm “Cà Mau - Ðiểm đến” - Bài 2: Nhìn từ thực tế

Khởi đầu mới mẻ, kết quả và hiệu ứng tích cực, song nhìn nhận khách quan, Chương trình “Cà Mau - Ðiểm đến” (Chương trình) cần có những tính toán phù hợp, dài hơi, nhất là đúc rút kinh nghiệm để vượt khó, bứt phá hơn trong tương lai. Ðây cũng là dịp để Cà Mau nhìn thẳng vào thực tế, từ đó có những đổi mới mạnh mẽ hơn, cả trong tư duy, hành động để hướng đến mục tiêu đưa Chương trình trở thành thương hiệu có sức sống lâu bền, mang lại những tác động tích cực, toàn diện vào đà phát triển chung của địa phương.

Nâng tầm “Cà Mau - Ðiểm đến”

Cuối năm 2020, từ ý tưởng “xây dựng lễ hội đặc trưng riêng cho từng địa phương” để thu hút du khách, kích cầu dịch vụ - thương mại và tiêu dùng, UBND tỉnh Cà Mau đã chính thức khởi thành Chương trình “Cà Mau - Ðiểm đến” (Chương trình) vào năm 2021. Phải nói thêm, với tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, “Cà Mau - Ðiểm đến” vừa được xây dựng đã đứng trước những khó khăn, thách thức cam go. Nhưng qua từng năm, với quyết tâm, sự chuẩn bị chu đáo, tư duy đổi mới, quyết đoán, “Cà Mau - Ðiểm đến” không ngừng “trưởng thành” hơn, trở thành dấu ấn tích cực, động lực phát triển, phục hồi mạnh mẽ của kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Nâng tầm Chương trình còn là sự kỳ vọng lớn lao, với rất nhiều công việc phải bàn, phải làm cho hành trình dài hơi phía trước.

Thoả lòng dân mong - Bài cuối: Đổi mới, sáng tạo, nâng chất hoạt động

Ðầu nhiệm kỳ 2021-2026, HÐND tỉnh Cà Mau có 51 đại biểu, hiện nay còn 49 đại biểu (giảm 2 vị do chuyển công tác ngoài địa bàn tỉnh). Năm 2023, HÐND tỉnh đã tổ chức 4 kỳ họp HÐND, ban hành 83 nghị quyết, có 36 nghị quyết quy phạm pháp luật và 47 nghị quyết cá biệt (trong đó có 8 nghị quyết về công tác cán bộ); 16 cuộc giám sát, khảo sát chuyên đề; 2 phiên giải trình về “tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh” và “việc thực hiện sắp xếp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp”.

Thoả lòng dân mong

Ðại biểu HÐND mang sứ mệnh là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HÐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Ðể đáp lại sự tín nhiệm và niềm tin cử tri gửi gắm, thời gian qua, đại biểu HÐND tỉnh đã kết nối các cấp thẩm quyền giải quyết thấu đáo, trách nhiệm các kiến nghị của cử tri. Có được kết quả này là nhờ sự sáng tạo, đổi mới trong cách thức thực hiện, đặc biệt là các ý kiến, kiến nghị được tiếp thu, giải quyết kịp thời, đúng người, rõ việc.

Hồi sinh “rừng vàng, biển bạc” - Bài cuối: Những gợi ý khả thi

Tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nguồn lợi thuỷ sản, được coi là điểm tựa nền tảng của Cà Mau để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững. Những sản vật của xứ rừng, biển Cà Mau đã tạo dựng được uy tín, thương hiệu, mang lại giá trị kinh tế ngày càng lớn. Trân trọng thiên nhiên, ý thức trách nhiệm, tự hào và nỗ lực hành động để gìn giữ, bảo vệ thiên nhiên cũng chính là chìa khoá mở ra tương lai phát triển giàu đẹp, bền vững của quê hương.

Hồi sinh “rừng vàng, biển bạc” - Bài 4: Không thể chần chừ

Đồng chí Nguyễn Tiến Hải, Uỷ viên BCH Trung ương Ðảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HÐND tỉnh Cà Mau, khẳng định: “Từ năm 2024, Cà Mau tuyên bố nói không với hình thức khai thác thuỷ sản theo kiểu tận diệt, huỷ diệt”.

Hồi sinh “rừng vàng, biển bạc” - Bài 3: Hồi chuông cảnh báo

Nguồn lợi thuỷ sản suy giảm đến lằn ranh “báo động đỏ” là thực trạng nhức nhối, bức thiết với Cà Mau. Ðó không chỉ là sự suy giảm thuần tuý về mặt tài nguyên mà còn kéo theo những hệ luỵ khôn lường, to lớn đối với thực tại và tương lai phát triển của tỉnh nhà. Có hàng loạt nguyên nhân được chỉ ra, nhưng sâu xa nhất vẫn là tâm thế hành xử của con người với thiên nhiên. “Rừng vàng, biển bạc” ở Cà Mau đang bị tổn thương bởi sự vô tâm, thờ ơ của chính con người.

Hồi sinh “rừng vàng, biển bạc” - Bài 2: Cá đồng kêu cứu

Hệ sinh thái ngập ngọt với nguồn lợi cá đồng dồi dào ở Cà Mau đang đối diện với thời khắc cam go. Vựa cá đồng huyền thoại vùng U Minh Hạ ngày nào giờ chỉ còn lại trong những câu chuyện đượm nỗi nhớ tiếc đến xót xa. Cà Mau giờ dần vắng bóng mùa tát đìa, chụp lưới ăn Tết. Mặt sông rạch thưa tiếng cá quẫy đuôi, đớp mồi. Con cá đồng Cà Mau đang đi đâu, về đâu?...