Thứ tư, 22-7-26 07:17:49
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM SỰ KIỆN TẬP KẾT RA BẮC (1954-2024)

Bây giờ mới nói

Báo Cà Mau

Minh hoạ: Minh Tấn

Minh hoạ: Minh Tấn

- Anh Út (*), anh nhớ lực lượng nào tiếp quản khi đối phương giao khu tập kết cho ta?

- Một trung đội chủ lực của Tiểu đoàn 307, lấy từ Ðại đội 933 với cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và tổ liên hợp. Tất cả được phân công ra tiếp quản thị trấn Cà Mau, Tắc Vân, Hộ Phòng, Giá Rai và Hoà Bình (trên Quốc lộ 4). Bên ta đều trẻ tuổi (từ 18-25) khoẻ mạnh, đẹp trai, múa hát hay...

- Ðồng bào vùng tạm chiếm bấy giờ đón ta thế nào?

- Khi chúng tôi tới cầu quay Cà Mau, nhiều người, phần đông là người già và trẻ em, tò mò đến, đứng xa xa xem Việt Minh có phải như Pháp và Bảo Ðại tuyên truyền “7 người đeo không gãy tàu lá đu đủ”. Bà con thấy anh em ta đẹp và vui quá, mặc đồng phục ka-ki vàng mới tinh.

- Quân phục của cơ quan nào cấp?

- Vải của quân trang. Còn công kỹ, thức suốt đêm, may cho anh em kịp mặc ra thành, là nhờ các má, các chị em ở Cái Nhúc.

- Thủ tục giao - nhận khu tập kết thế nào, anh Út?

- Một quan ba Pháp từ Bạc Liêu tới với mấy tên tuỳ tùng, quân phục và ga-lon nghiêm chỉnh. Ðối phương cùng chúng tôi bắt tay xã giao, phiên dịch làm việc trôi chảy sau lời chào hỏi khá lịch sự. Rồi họ đưa ta lại từng công sở giao - nhận sổ sách ký tên đóng dấu. Cờ tam tài kéo xuống, cờ đỏ sao vàng kéo lên khi chiến sĩ ta bồng súng chào. Cờ ta tung bay trước gió, thắm tươi, vẫy gọi mọi người. Ta đi tới đâu, nhà nhà mở cửa chào đón tới đó. Không rõ cờ Tổ quốc được chuẩn bị bao giờ, được treo lên trên nóc, trên cửa sổ mỗi nhà như mọc từ lòng yêu nước, tràn ngập các khu phố, bến tàu, nhà lồng chợ và tiệm quán... Hôm đó là ngày 1/8/1954, 9 giờ sáng.

- Thưa anh, lúc nào ta mới rước bộ đội và đồng bào ra chợ?

- Ðúng 11 giờ ngày 21/8/1954, quân dân ta từ năm ngã sông đổ ra Cà Mau... Người, băng cờ, khẩu hiệu, ống loa... rợp trời thị trấn Cà Mau và nhiều nơi khác trong khu vực quy định tập kết. Tôi không nhớ hết và không nói hết cảm xúc trào dâng của mình bấy giờ. Mỗi ánh mắt, mỗi lời tung hô hoà bình, chúc thọ Bác... đều góp phần tạo nên một bức tranh hoành tráng một không khí khác thường, mình thấy như trời đất rộng lớn hơn.

- Giao xong, đối phương làm gì tiếp theo?

- Ba sĩ quan Pháp và trung đội bảo hoàng co ro trên xe chạy về Bạc Liêu, chúng bị mọi người quên lãng như không hề có mặt. Khi đó, cán bộ và chiến sĩ ta đến đâu quần chúng vây quanh hỏi han trò chuyện, xin bài ca. Rồi sau đó, chúng tôi được điều về Ðội Cảnh vệ Bộ Tư lệnh miền Tây, ra Phụng Hiệp bảo vệ đồng chí Phạm Hùng, Trưởng ban Liên hợp Nam Bộ.

- Thời điểm tập kết, anh Út có chuyện gì đáng nhớ nhất?

- Có. Ðó là chuyến tàu thứ hai, trung đội tôi được lệnh đi công tác Vũng Tàu, lên tàu Strasvobol (của Liên Xô), nhiệm vụ của chúng tôi là đón đoàn cán bộ y tế từ miền Bắc vô, gồm 9 đồng chí, trong đó có một bác sĩ người cao, da đen: “Bác sĩ Lê Ba”. Ông này rất bí mật. Khi xuống tàu LCM một ngày đêm về Chắc Băng, ít giao tiếp với ai. Ba người ngồi kế ông là cảnh vệ chúng tôi, bí mật che chắn không cho các nhà báo nước ngoài tiếp cận ông phỏng vấn. Khi về đến doanh trại ta ở Chắc Băng, các anh chỉ huy ra mừng đón, chúng tôi mới vỡ lẽ “Bác sĩ Lê Ba” chính là đồng chí Lê Duẩn của chúng ta!

Ðồng chí Lê Duẩn về Chắc Băng, chủ trì hội nghị đầu tiên của Xứ uỷ Nam Bộ, chỉ đạo cuộc tập kết lịch sử. Ðồng chí được hội nghị cử làm Bí thư Xứ uỷ. Sau chuyến tàu thứ ba, đồng chí Lê Duẩn cùng Xứ uỷ chỉ đạo nên chuyển quân xuống bến sông Ông Ðốc tiện hơn cho ta (để ta chuyển súng đạn từ Bắc vào Nam, rút cán bộ vừa lên tàu trở xuống, ở lại chiến đấu... thuận lợi hơn những bến khác).

Còn phía Pháp, họ sợ tuyến Cần Thơ - Vũng Tàu, lúc xuyên qua tuyến sông và kênh xáng liên tỉnh, đồng bào ra tận tàu chào mừng và tiễn đưa bộ đội ta, nên họ cũng đồng ý với đề nghị của ta chọn bến sông Ông Ðốc tàu cập bến rước quân tập kết.

-  Thủ tục kiểm soát thế nào, anh Út còn nhớ không?

-  Mình xuống tàu thì đối phương cùng Uỷ ban Liên hợp kiểm soát, có Uỷ hội Quốc tế giám sát. Chúng nó quay phim, chụp hình và đếm quân số, vũ khí của ta đưa xuống tàu là bao nhiêu. Khi xuống bến sông Ông Ðốc, chúng làm việc này khó hơn tuyến sông Cần Thơ, vì bờ biển quá rộng.

-  Những cán bộ ngoài Bắc đưa vào Nam, đều học cách ăn mặc và sinh hoạt theo Nam Bộ. Có đồng chí được tập huấn ngắn ngày từ Liên Xô mới về nước, có lịnh đi vào Nam ngay. Chúng tôi, tổ cảnh vệ phải đưa các anh chị này ra Cà Mau, Giá Rai... cho quen giao tiếp, rồi nhận nghị quyết đi các tỉnh hoặc Sài Gòn. Mỗi đồng chí trong đoàn cán bộ này đều có thể họ đạo Thiên Chúa ở Bùi Chu, hoặc nơi nào đó ở miền Bắc, đi cử vào Nam, tiền bạc mang theo đủ sống 6 tháng để thâm nhập vào miền Nam. Các anh chị học cao, trẻ đẹp (tuổi từ 25-30) hoàn toàn bỡ ngỡ với miền Nam, nên phải học thuộc tín hiệu (**). Anh Nguyễn Xuyến, Tham mưu phó Quân khu 9, giao nhiệm vụ xong, điều số cán bộ chi viện này đi các tỉnh Nam Bộ... chỉ còn 2 người ở lại thị tứ sông Ông Ðốc để mở trường dạy học (sửa doanh trại dừng quân của ta lúc tập kết làm trường tiểu học đầu tiên ở thị tứ sông Ông Ðốc).

- Theo anh Út nhớ, chuyến tàu cuối cùng của ta xuất phát thế nào?

- Ðồng chí Nguyễn Chánh, Tham mưu trưởng Quân khu miền Tây, Trưởng ban Liên lạc khu tập kết 200 ngày, ra sân lễ đọc lời tạm biệt đồng bào. Anh cảm động đọc không được, anh Nguyễn Văn Tiên, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 307, bấy giờ là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, đứng ra đọc tiếp, hứa với đồng bào 2 năm trở về, lại cũng xúc động đọc đứt quãng. Hai chiến sĩ cảnh vệ kéo cờ ta xuống để xếp lại mang đi. Mấy hàng chiến sĩ bồng súng dàn chào như tượng thần, lặng lẽ. Chúng tôi cùng đồng bào mặc niệm vong linh các chiến sĩ anh hùng và đồng bào tử nạn vì chiến tranh. Ðồng bào hai bên chợ im lặng nhìn cảnh quân dân ly biệt. Các chị bưng nước hột é và si rô cho bộ đội uống...

Ðúng 18 giờ ngày 10/2/1955, tiếng loa phát thanh từ tàu Ba Lan vang lên, chào tạm biệt đồng bào miền Nam, chào quê hương kiên cường chiến đấu cho ngày thống nhất 2 miền. Tất cả im lặng nhìn lên bờ trong 2 phút theo lệnh đồng chí Nguyễn Văn Tiên. Tàu kéo còi 3 hồi dài rồi phát máy, rung rung chuyển mình vượt sóng ra hướng Bắc...

(*) Thiếu tá Lâm Phú Hữu, hội viên Hội Cựu chiến binh tỉnh Cà Mau.

(**) Tín hiệu mật giao của Ban Tổ chức Trung ương. Nhờ tín hiệu, khi ổn định chỗ ở, người mới tới mới được liên hệ cơ sở cách mạng, nối sinh hoạt.

 

Nguyễn Bá

 

Gửi tuổi xanh cho quê hương

Có những mùa xuân của tuổi trẻ không được ghi dấu bằng mối tình đầu thơ mộng hay những ước mơ trong trẻo, dự định về tương lai rộng mở, mà bằng tiếng súng, cuộc hành quân xuyên đêm, những lần đối mặt với ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng câu chuyện về những nữ pháo binh và nữ biệt động của Cà Mau vẫn luôn là biểu tượng đẹp về một thế hệ đã gửi trọn tuổi thanh xuân cho quê hương, đất nước.

Hướng về Ngày Thương binh - Liệt sĩ bằng cả tấm lòng

Ngày 18/7, cán bộ, đoàn viên thanh niên, lực lượng dân quân tự vệ xã Châu Thới phối hợp với cán bộ, nhân viên Viettel khu vực Vĩnh Lợi ra quân tổng vệ sinh, chỉnh trang Nghĩa trang liệt sĩ xã.

Tiếp nối mạch nguồn cách mạng

Toạ lạc bình yên bên cạnh đầm Thị Tường (ấp Xẻo Đước, xã Phú Mỹ), di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Đước đứng hiên ngang trước cảnh sắc thiên nhiên bình dị. Nơi đây từng là chứng nhân cho một thời kỳ gian lao đầy bom đạn, từng là căn cứ huyền thoại trong lòng Nhân dân. Đi qua những đau thương của quá khứ, đất và người Phú Mỹ hôm nay đang viết tiếp những trang sử mới bằng niềm tự hào và khát vọng bình yên, trù phú.

Cựu thanh niên xung phong - Niềm tự hào của bao thế hệ

Trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, có những lớp thanh niên sẵn sàng gác lại tuổi xuân đẹp nhất đời mình, tình nguyện lên đường ra tiền tuyến. Ðó chính là những thanh niên xung phong (TNXP) đã góp phần viết nên những trang sử oai hùng của dân tộc. Hơn nửa thế kỷ sau mùa xuân thống nhất đất nước, gần 2 ngàn cựu TNXP tỉnh Cà Mau vẫn luôn gìn giữ và phát huy truyền thống vẻ vang: vững vàng vượt qua mọi khó khăn, đoàn kết, nghĩa tình, tích cực góp sức xây dựng quê hương và luôn là niềm tự hào của nhiều thế hệ.

“Khúc tráng ca” bất tử của 10 chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai

Ðến ngã tư Ngô Quyền - Lý Bôn (Khóm 1, phường An Xuyên), nhiều người không khỏi xúc động khi nhìn thấy tượng đài ngọn hải đăng nhỏ. Ðó là chứng tích lịch sử ghi dấu ngày bi hùng của 85 năm về trước. Hướng tới kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026), chúng ta lại bồi hồi nhớ về những người con đã ngã xuống vì mảnh đất này, mà đỉnh cao của lòng kiên trung chính là sự kiện ngày 12/7/1941.

Hào hùng chiến thắng Đòn Dong - Tân Quảng

Cách đây 60 năm, một ngày tháng 7/1966, trời Ðòn Dong - Tân Quảng trong xanh, các con kênh, mương, mặt ruộng lấp loáng nước; vùng tranh chấp quanh Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng của bọn Mỹ - nguỵ vẫn yên tĩnh như mọi ngày, nhưng âm thầm trong ấy là sự sôi sục, chờ đợi một trận quyết chiến.

Lắng đọng ngoại khoá "Trạm dừng ký ức tháng 7"

Sáng 10/7, Bảo tàng tỉnh Cà Mau phối hợp Đoàn Thanh niên phường Vĩnh Trạch tổ chức chương trình ngoại khoá "Trạm dừng ký ức tháng 7", hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7. Chương trình thu hút hơn 80 đoàn viên, thanh niên tham gia.

Xây dựng tượng Anh hùng dũng sĩ Phùng Ngọc Liêm: Ngọn đuốc tinh thần của tuổi trẻ Cà Mau

Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND), Dũng sĩ diệt nguỵ Phùng Ngọc Liêm với “Tiếng mìn bất tử” sinh ngày 10/7/1955, quê quán tại ấp Mỹ Ðông, xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng (cũ), nay là thành phố Cần Thơ. Tham gia cách mạng từ ngày 1/2/1968 khi mới 13 tuổi, Phùng Ngọc Liêm trở thành chiến sĩ nhỏ tuổi can trường của Ðội Biệt động thị xã Bạc Liêu thời bấy giờ.

65 năm vun đắp nghĩa tình

Trung tuần tháng 5/2026, tôi nhận được cuộc điện thoại của anh Phạm Phi Thường, thủ trưởng cũ của tôi, nguyên Giám đốc Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau. Anh nói tới đây cần làm một bộ phim tài liệu về Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình, nhờ tôi viết kịch bản.

Tấm lòng người dân Cà Mau với Bác Hồ

Những ngày tháng 5, khi cả nước hướng về kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi tìm về xã Châu Thới thăm Ðền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðây không chỉ là Di tích Lịch sử - Văn hoá quốc gia mà còn là biểu tượng của lòng trung kiên và tình cảm son sắt mà người dân địa đầu cực Nam Tổ quốc dành cho vị lãnh tụ kính yêu.