Từ những mô hình xanh - số đã hình thành, Cà Mau đang đứng trước bài toán lớn hơn: làm sao tháo điểm nghẽn về vốn, công nghệ, dữ liệu, đầu ra và cả thói quen sản xuất để nhân rộng những mô hình tiên phong. Giải được bài toán này, chuyển đổi kép “xanh, số” sẽ vượt qua giới hạn của những thử nghiệm ban đầu để trở thành sức bật chiến lược, đưa kinh tế tỉnh nhà bứt phá trong giai đoạn mới.
- Chuyển đổi kép “xanh, số”: Con đường phát triển bền vững
- Chuyển đổi kép “xanh, số”: Con đường phát triển bền vững - Bài 2: Vòng tuần hoàn mới của con tôm, cây lúa
- Chuyển đổi kép “xanh, số”: Con đường phát triển bền vững - Bài 3: Lợi thế cạnh tranh với năng lượng xanh
Gỡ nút thắt về vốn, thói quen sản xuất và đầu ra
Buổi sớm ở vùng nuôi tôm công nghệ cao xã Tân Hưng, nhìn từ trên cao, hiện rõ những ô ao được quy hoạch bài bản của mô hình nuôi tôm siêu thâm canh tuần hoàn kết hợp cá rô phi đạt chuẩn ASC do ông Huỳnh Xuân Diện, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Hợp tác xã (HTX), xây dựng. Không chỉ có các ao nuôi tôm chính, khu nuôi còn có hệ thống ao lắng, ao lọc và ao nuôi cá rô phi đơn tính. Ông Diện thường xuyên sử dụng thiết bị để đo, kiểm soát các tiêu chuẩn chất lượng nước. Khi đạt yêu cầu, nước được chuyển sang ao khác để tiếp tục xử lý, sau đó qua ao nuôi rong câu chỉ vàng trước khi được đưa vào ao chuẩn bị cho vụ tôm mới.
Quy trình tuần hoàn nhiều tầng này giúp giảm lượng nước thải ra môi trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, đồng thời tạo thêm thu nhập từ cá rô phi.
Mô hình nuôi cá rô phi đơn tính góp phần xây dựng hệ thống tuần hoàn nước phục vụ nuôi tôm của ông Huỳnh Xuân Diện (bìa trái) xã Tân Hưng.
Tuy nhiên, để mô hình "xanh" này có thể nhân rộng, bài toán đầu tiên là nguồn vốn và diện tích đất. Hệ thống xử lý nước, thiết bị quan trắc môi trường và các giải pháp tự động hoá đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá lớn. Ðối với những hộ nuôi quy mô nhỏ, đây vẫn là rào cản không dễ vượt qua.
Ðiểm nghẽn khác là thói quen sản xuất. Ông Tạ Hoàng Nhiệm, Giám đốc HTX Nuôi tôm công nghệ cao Ðông Hải (xã Ðông Hải), cho biết: Nhiều nông dân quen làm theo kinh nghiệm, trong khi sản xuất mới đòi hỏi ghi chép, sử dụng thiết bị và dữ liệu. Một chiếc cảm biến hay phần mềm không thể thay đổi ngay cách làm đã hình thành qua nhiều năm. Muốn người dân thay đổi, cách thuyết phục tốt nhất là hiệu quả thực tế. Khi thấy những hộ bên cạnh giảm chi phí sản xuất, năng suất đạt cao và bán được giá hơn, người dân sẽ có động lực làm theo.
Còn tại xã Ðá Bạc, ông Nguyễn Vũ Trường, Giám đốc HTX Dịch vụ nông nghiệp Kinh Dớn, cho hay, HTX được kết nối thực hiện dự án liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo theo Nghị định số 98/2018/NÐ-CP với quy mô 50 hộ, 50 ha trong 3 năm. Tổng kinh phí thực hiện hơn 4,55 tỷ đồng, trong đó ngân sách hỗ trợ hơn 1,09 tỷ đồng. Bên cạnh đó, HTX còn triển khai 60 ha lúa phát thải thấp. Chuỗi liên kết này giúp nông dân giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng lúa. Tuy nhiên, HTX vẫn còn gặp khó về vốn, hạ tầng và mở rộng vùng nguyên liệu, nhất là cần bao tiêu đầu ra với giá ổn định.
Ðồng lúa giảm phát thải tại HTX Dịch vụ nông nghiệp Kinh Dớn.
Giá cả và đầu ra cũng là băn khoăn chung của nhiều doanh nghiệp, HTX. Tại xã Ðất Mũi, HTX Nông nghiệp, Du lịch sinh thái cộng đồng Ðất Phương Nam có 70 ha tôm - rừng đạt chứng nhận ASC, với 12 thành viên tham gia. Ông Phan Thanh Sơn, Giám đốc HTX, chia sẻ: HTX kết nối với Doanh nghiệp xã hội Minh Phú để chuyển giao khoa học - kỹ thuật, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và bao tiêu đầu ra. Thế nhưng, sản xuất xanh sẽ khó bền vững nếu sản phẩm làm ra vẫn phải bán như sản phẩm thông thường. Bởi nông dân phải bỏ thêm công sức, tuân thủ nhiều tiêu chuẩn và đầu tư nhiều hơn cho chất lượng, nếu thị trường không trả mức giá tương xứng thì động lực duy trì mô hình sẽ giảm.
Khơi dòng năng lượng xanh
Với mong muốn chủ động nguồn điện, giảm chi phí và tận dụng năng lượng sạch, đầu năm 2020, ông Bùi Kim Luyến, Giám đốc Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại và Dịch vụ giống thuỷ sản Thảo Nguyên (xã Năm Căn), đầu tư hơn 23 tỷ đồng cho hệ thống điện mặt trời. Ðặc biệt, ông Luyến đã ký hợp đồng mua bán điện 20 năm trước khi Quyết định số 13/2020/QÐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời hết hiệu lực; việc tiếp nhận, giải quyết các yêu cầu về đấu nối và ký hợp đồng mua bán điện từ các hệ thống điện mặt trời mái nhà bị dừng lại.
Câu chuyện của ông Luyến cho thấy một trong những vấn đề doanh nghiệp quan tâm khi đầu tư năng lượng tái tạo là tính ổn định của cơ chế. Khi chính sách mua bán điện thay đổi, phần điện sản xuất nhưng không sử dụng hết khó tạo nguồn thu như kỳ vọng.
Là hộ nuôi tôm siêu thâm canh nhiều năm, ông Nguyễn Minh Luân (ấp Tân An Ninh, Xã Tạ An Khương) từng tính đến phương án đầu tư điện mặt trời để phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, với mức đầu tư hơn 1,2 tỷ đồng khiến ông có phần e ngại. Ông Luân cho biết, nếu Nhà nước có cơ chế kết nối doanh nghiệp đầu tư cùng nông dân thì sẽ giảm đáng kể áp lực vốn.
Thu hoạch tôm siêu thâm canh tại xã Ðầm Dơi.
PGS-TS Văn Phạm Ðăng Trí, Viện trưởng Viện Mê Kông (Ðại học Cần Thơ), cho rằng, hiện Cà Mau có điều kiện xây dựng mô hình phát triển mới dựa trên những lợi thế sẵn có như: biển, rừng và nguồn năng lượng sạch. Nhưng lợi thế chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức thành những chuỗi giá trị đủ lớn, có công nghệ phù hợp, thị trường ổn định và cơ chế khuyến khích lâu dài. Ðặc biệt, điều Cà Mau cần không phải là chạy đua làm thật nhiều mô hình, mà là chọn đúng lợi thế, đầu tư đủ sâu và tạo ra hiệu quả đủ rõ để nhân rộng.
Ngoài ra, Cà Mau có lợi thế lớn về diện tích rừng, với hơn 143.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn có khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon cao, nhưng tiềm năng tín chỉ carbon vẫn chưa được khai thác tương xứng. Theo TS Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), một trong những nguyên nhân là thị trường carbon tại Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện, các quy định về xác lập quyền đối với tín chỉ carbon, đo đạc, báo cáo, thẩm định lượng carbon hấp thụ, đặc biệt là cơ chế giao dịch để người dân thực sự hưởng lợi.
Ðể biến lợi thế rừng thành nguồn thu thực tế, Cà Mau cần xây dựng cơ sở dữ liệu carbon rừng bài bản, xác định các khu vực có tiềm năng, hoàn thiện hồ sơ pháp lý, cơ chế phân chia lợi ích, đồng thời thu hút doanh nghiệp và các tổ chức có năng lực tham gia. Khi những “điểm nghẽn” này được tháo gỡ, tín chỉ carbon có thể trở thành nguồn lực quan trọng, vừa tạo giá trị kinh tế từ rừng, vừa góp phần bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn của địa phương.
Gỡ nút thắt về cơ chế, khơi thông đầu ra, tạo điều kiện về vốn và kết nối năng lượng với sản xuất - đó là "chìa khoá" để Cà Mau biến lợi thế “rừng vàng, biển bạc” thành không gian phát triển xanh. Khi dòng điện từ biển, nắng, gió được chuyển hoá thành giá trị ngay trên quê hương con tôm, cây lúa cũng là lúc kinh tế xanh, kinh tế số không còn là câu chuyện của tương lai mà trở thành động lực tăng trưởng mới của vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc.
Loan Phương

Truyền hình



Xem thêm bình luận