Thứ ba, 28-7-26 17:06:28
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Ðừng để những chính sách kinh tế biển “yểu mệnh” - Bài 2: Nhiều chính sách chưa sát thực tiễn

Báo Cà Mau (CMO) Cùng với Nghị định 67/2014, hơn 10 năm trở lại đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách trên lĩnh vực thuỷ sản, trong đó có những chính sách đặc thù cho lĩnh vực khai thác thuỷ sản (một số chính sách hỗ trợ chung). Số lượng chính sách ra đời đã hạn chế, việc tiếp cận, thực hiện, phát huy của ngư dân đối với những chính sách này còn là câu chuyện khó hơn.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, tính từ năm 2010 đến nay, có khoảng 6 chính sách của Trung ương liên quan đến hỗ trợ khai thác thuỷ sản (tỉnh chưa ban hành chính sách riêng nào). Song, trong đó số người dân tiếp cận được (được thụ hưởng) đếm trên đầu ngón tay.

Khó tiếp cận chính sách

Ðầu tiên phải kể đến Quyết định số 48/2010/QÐ-TTg ngày 13/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi thuỷ sản và dịch vụ khai thác thuỷ sản trên các vùng biển xa. Khi đó, UBND tỉnh đã phê duyệt danh sách 29 tàu (11 tàu làm nghề lưới vây, 18 tàu làm nghề câu mực) đủ điều kiện hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng biển xa. Tuy nhiên, do ngư trường Cà Mau cách quá xa các vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa và DK1, chi phí tiêu hao nhiên liệu rất lớn, chi phí hỗ trợ nhiên liệu lại không đủ cho việc di chuyển đến vùng biển xa; cùng với đó, đặc điểm ngư cụ, kinh nghiệm của thuyền trưởng lại không đảm bảo, hạn chế khi hoạt động khai thác thuỷ sản ở vùng biển này... nên đến nay vẫn chưa có tàu được hỗ trợ theo quy định.

Cửa biển Khánh Hội, huyện U Minh, với số lượng tàu khá lớn nhưng số ngư dân được tiếp cận chính sách rất hạn hẹp.

Phó giám đốc Sở NN&PTNT Châu Công Bằng nhìn nhận: “Chính sách rất ý nghĩa, vừa mang tính hỗ trợ khai thác biển, vừa bảo vệ an ninh chủ quyền vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ có vài trường hợp triển khai nhưng buộc phải dừng lại do không phù hợp thực tiễn khai thác, đánh bắt của địa phương”.

Chính sách “Giảm tổn thất trong nông nghiệp” năm 2013 do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 68/2013/QÐ-TTg ngày 14/11/2013. Trong đó, ngân sách Nhà nước hỗ trợ lãi suất vốn vay thương mại để mua máy, thiết bị sử dụng trên tàu cá, tàu dịch vụ hậu cần phục vụ đánh bắt xa bờ. Tỉnh Cà Mau khi đó có triển khai nhưng không nhiều. Do quy định về vốn đối ứng và nghề khai thác đối với hoạt động này vốn cao nên ngư dân không mặn mà với chính sách, chỉ có một số trường hợp cải hoán hầm bảo quản, mua sắm thêm trang thiết bị để bảo quản sản phẩm.

Bám nghề khai thác thuỷ sản đã mấy đời, với 3 chiếc ghe biển (2 chiếc lớn vươn khơi), ông Huỳnh Văn Nhật, Khóm 1, thị trấn Sông Ðốc, huyện Trần Văn Thời mấy chục năm bôn ba nghề biển nhưng khó tiếp cận được những chính sách hỗ trợ khai thác thuỷ sản. Ông Nhật giãi bày: “Có năm được hỗ trợ tiền dầu trên 30 triệu đồng (do dầu lên giá) và tiền bảo hiểm (được 2 năm). Ngư dân ở đây còn khó khăn lắm, cũng muốn vay vốn để nâng cấp, sửa chữa tàu ra khơi nhưng nghề biển ví như nghề "bà cậu", lỡ thế chấp tài sản mà làm ăn thất bát thì trắng tay".

Hơn 20 năm làm nghề khai thác biển, nhưng ông Nguyễn Chí Nhân, Ấp 4, xã Khánh Hội, huyện U Minh chưa một lần được hỗ trợ về khai thác thuỷ sản. Hiện ông Nhân có 2 tàu khai thác mực tại cửa biển Khánh Hội. Ông bộc bạch: “Khai thác biển ngày càng khó khăn, nhất là ảnh hưởng dịch Covid-19, giá dầu tăng liên tục nên ngư dân đánh bắt càng gặp khó khăn hơn. Ðã vậy, làm nghề đánh bắt mấy chục năm, nhưng hầu như các chính sách triển khai các ghe lớn mới đủ điều kiện được hỗ trợ, còn các ghe nhỏ gặp nhiều khó khăn thì không được”. Ông Nhân mong muốn cần có nhiều chính sách hỗ trợ hơn nữa để họ có điều kiện hoạt động, ổn định cuộc sống.

Nguồn lợi thuỷ sản ngày càng cạn kiệt, giá cả bán ra sụt giảm, chi phí ra biển tăng khiến các tàu đánh bắt gặp nhiều khó khăn. (Ảnh chụp tại Cảng cá Sông Ðốc, thị trấn Sông Ðốc, huyện Trần Văn Thời).

Không phải chính sách nào cũng… như hoạch định

Thực tế, chính sách không chỉ khó tiếp cận mà khi tiếp cận thủ tục rất rườm rà với hàng loạt quy định, khiến ngư dân không còn thiết tha, mặn mà với những gì mà mình đáng lẽ được thụ hưởng. Ðiều đó lý giải cho việc vì sao ngư dân không quan tâm với chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015 (thay thế, bổ sung Nghị định 41/2010). Dù nguồn vốn được vay tối đa 500 triệu đồng (thay vì khoảng 50 triệu đồng so với nghị định cũ), nhưng ngư dân ít tiếp cận được chính sách này, với lý do thủ tục quy định khá nặng nề. “Mặc dù vay tín chấp nhưng khi triển khai, các ngân hàng bắt buộc có nhiều thủ tục, thậm chí phải kê khai tài sản, chứng minh tài sản... Hầu hết các ngân hàng thương mại được chỉ định triển khai chính sách này không mặn mà”, Phó giám đốc Sở NN&PTNT Châu Công Bằng cho hay.

Ðiều đó cũng xảy ra tương tự với Nghị định số 67/2014, chính sách lớn của Chính phủ. Khi triển khai đòi hỏi các thủ tục quy định chặt chẽ mới được giải ngân. Từ xét duyệt về tay nghề, kinh nghiệm trong khai thác, thủ tục phải xác nhận từ chính quyền cơ sở, tới ngân hàng rồi thành lập các ban thẩm định, rất phức tạp. Ðiều đó được đánh giá là cần thiết, bởi số tiền vay vốn lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Ðó còn chưa kể đến, trong quá trình thực hiện, một số hộ cố tình lợi dụng chính sách làm cho quá trình triển khai bị chậm.

Ông Châu Công Bằng cho hay, hiện nay chỉ khoảng 15-20% "tàu 67" hoạt động hiệu quả, còn lại không hiệu quả dẫn đến nợ xấu ngân hàng. Mặc dù lãi suất được hỗ trợ nhưng với số tiền lớn, mỗi năm người dân phải trả nợ gốc trên 1 tỷ đồng, nên áp lực trả nợ rất nặng nề. Từ nợ xấu kéo dài, ngân hàng buộc lòng thu hồi vốn qua cơ quan pháp lý khi đã có trường hợp bị khởi tố chờ bán tài sản, một số ít được khoanh nợ chờ xử lý.

Thực trạng này không chỉ do hiệu quả khai thác thuỷ sản giảm sút, mà còn “cộng hưởng” bởi sự thay đổi chính sách của Chính phủ. Sau Nghị định 67/2014, Chính phủ ban hành Nghị định 17/2018, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014, thay đổi lớn so với nghị định cũ, khiến ngư dân càng điêu đứng.

Chính sách này hầu như “cắt bỏ” mọi hỗ trợ trước đây theo Nghị định 67/2014 cho ngư dân. Trong đó, bãi bỏ chính sách hỗ trợ dịch vụ hậu cần nghề cá (hỗ trợ 400-600 triệu đồng/năm tuỳ công suất). Ðiều này gây khó khăn cho ngư dân, vì dịch vụ hậu cần phục vụ tàu khai thác, 1 chiếc phục vụ nhiều chiếc để giảm bớt chi phí cho đội tàu khai thác trên biển. Ðồng thời, Nghị định 17 cũng giảm mức hỗ trợ bảo hiểm từ 70-90% xuống còn 50%, gây khó khăn cho dân.

Không những vậy, Nghị định 17/2018 còn điều chỉnh chính sách tín dụng cho vay, sửa chữa, đóng mới, nâng cấp tàu. Trước đây, Nhà nước hỗ trợ lãi suất 7% (ngư dân chỉ đóng 2%). Còn Nghị định 17/2018, Nhà nước hỗ trợ 1 lần sau đầu tư. Nghĩa là người dân đóng tàu thì Nhà nước hỗ trợ 1 lần bằng 35%, không lãi suất. Do số tiền bỏ ra 1 lần quá lớn nên người dân không có khả năng, và việc cho vay thương mại đối với khai thác thuỷ sản có rủi ro cao nên từ khi ra đời đến nay, Cà Mau chưa đóng được chiếc tàu nào.

Như vậy, có thể thấy rằng, chính sách lớn, nhân văn, ý nghĩa nhưng khó phát huy hiệu quả, ngoài nguyên nhân từ một bộ phận ngư dân thiếu ý thức trách nhiệm, không đủ năng lực tài chính, trình độ kinh nghiệm quản lý sản xuất khi thụ hưởng chính sách, ngân hàng e dè những rủi ro từ ngành khai thác thuỷ sản, thủ tục rườm rà, ngư dân khó tiếp cận thì phải kể đến bản thân các chính sách có nhiều bất cập, trong quá trình thực hiện các điều kiện thay đổi.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính được ông Châu Công Bằng thẳng thắn chỉ ra, đó chính là do khi ban hành chính sách không sát với thực tiễn, bởi đặc điểm ngành nghề vùng miền khác nhau, mà trong quá trình thực hiện không sửa đổi kịp thời, dẫn đến hậu quả khá nghiêm trọng. Rồi khi xây dựng chính sách, dự thảo chính sách được các địa phương đóng góp thường ít được sửa đổi, chủ yếu các bộ, ngành tham mưu, thường không sát với điều kiện sản xuất của từng địa phương, từng vùng, nhưng phải qua thời gian dài mới được sửa đổi dẫn đến hậu quả khó lường./.

 

Hồng Nhung - Hồng Phượng

BÀI CUỐI: ÐỂ NGƯ DÂN KHÔNG ÐƠN ÐỘC

 

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài cuối: Tầm nhìn kỷ nguyên mới

Một năm sau ngày thành lập, các cấp chính quyền của tỉnh Cà Mau đã có một hành trình dịch chuyển sống động từ tư duy đến hành động, minh chứng thực tiễn cho công cuộc “sắp xếp lại giang sơn” như lời Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu ngày 30/6/2025 tại Lễ công bố các nghị quyết, quyết định của Trung ương và địa phương về sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Qua câu chuyện của Cà Mau, có thể thấy rõ tầm nhìn về nền hành chính quản trị hiện đại đang dần hiện rõ, gợi mở giá trị cho công cuộc hoàn thiện thể chế gắn với lòng dân trên phạm vi cả nước.

Giải “sức nén”cho chính quyền cơ sở - Bài 2: Góp nhặt hài lòng, nhân lên niềm tin

Với quyết tâm chính trị trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, có những chủ trương, quyết sách trở thành hành động cụ thể; chính quyền gần dân, sát dân từng ngày, từng giờ góp nhặt niềm tin, nụ cười của Nhân dân bằng những cách làm sáng tạo, hiệu quả. Ở nơi đó, khoảng cách giữa chính quyền và Nhân dân được rút ngắn khi bước chân phụng sự của người cán bộ dài ra. Phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau là một địa phương điển hình như thế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở - Bài 3: Trao quyền thực chất, khơi thông nguồn lực

"Giải nén" cho chính quyền cơ sở không thể chỉ dựa vào nỗ lực tự thân của đội ngũ công chức, mà đòi hỏi vai trò chỉ đạo điều hành xuyên suốt của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh bằng những cơ chế mở. Từ thực tiễn sinh động của các địa phương trên cả nước, Cà Mau đã đúc kết bài học quan trọng để hoá giải một thách thức kinh điển: Làm sao giữ vững vai trò lãnh đạo của Ðảng nhưng không bao biện, làm thay chính quyền; đồng thời khắc phục triệt để căn bệnh "nghị quyết thì hay, triển khai thì nghẽn". Câu trả lời nằm ở tư duy đột phá: Trao quyền thực chất để khơi thông mạch máu thể chế.

Giải “sức nén” cho chính quyền cơ sở

Ngày 1/7/2025 đánh dấu bước ngoặt mang tính lịch sử khi toàn Ðảng, toàn hệ thống chính trị tiến hành đồng bộ cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, chính thức chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Trong tiến trình đổi mới thể chế và tinh gọn bộ máy theo chủ trương của Ðảng, Cà Mau - mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, hành trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là một sự đổi mới về cơ cấu tổ chức. Ðó là quyết tâm bắt tay từ thực tiễn, là nỗ lực giải quyết "sức nén" hành chính tại cơ sở, nơi mà mỗi quyết sách của Ðảng phải được cụ thể hoá để phục vụ thiết thực cho Nhân Dân.

Quyển sổ tang kể chuyện người anh hùng

Năm 2024, tôi thực hiện loạt bài “Anh hùng phi công, Liệt sĩ Nguyễn Văn Bảy (B) - Những điều ít biết” đăng trên báo in Cà Mau (ngày 29-30/4 và 1/5/2024) và Cà Mau Online. Ngoài chiến công đặc biệt dùng máy bay MiG-17 ném bom làm thiệt hại tàu khu trục thuộc Hạm đội 7 của Mỹ trên vùng biển Quảng Bình (bằng kỹ thuật “ném bom thát lát”, được xem độc nhất trong lịch sử không chiến Việt Nam và thế giới), bài viết còn đề cập về gia đình, quá trình học tập, chiến đấu và quỹ học bổng mang tên ông.

Hệ sinh thái đặc hữu quý giá của đồng bằng sông Cửu Long

Vườn Quốc gia U Minh Hạ, thuộc xã Đá Bạc, tỉnh Cà Mau, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nổi tiếng với hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn độc đáo.

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.