Thứ sáu, 11-9-26 07:12:16
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng Nam quốc lộ 1A: Những bất cập cần được tháo gỡ

Báo Cà Mau

Năm 2011, tổng giá trị sản xuất của ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đạt hơn 11.000 tỷ đồng, chiếm 51% GDP của tỉnh. Trong đó, khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS) chiếm 70% giá trị. Điều này cho thấy, tiềm năng và thế mạnh kinh tế thủy sản của tỉnh rất lớn và tập trung nhiều ở vùng Nam Quốc lộ (QL) 1A. Tuy nhiên, hệ thống thủy lợi cho NTTS ở khu vực này chưa được đầu tư đúng mức. Và cần làm gì để đạt được mục tiêu diện tích nuôi tôm công nghiệp 15.000ha vào năm 2015 trong điều kiện hạ tầng vùng nuôi bộc lộ rất nhiều bất cập, khiếm khuyết đang trở thành vấn đề đáng bàn.

Bài 1: Tình hình mới, quy hoạch cũ

Hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS ở vùng Nam QL1A của tỉnh hiện nay là dành cho trồng trọt được quy hoạch từ thời tỉnh Minh Hải (cũ). Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bạc Liêu chưa có quy hoạch thủy lợi nào được duyệt dành cho con tôm.

Thủy sản cũng cần “nhất nước”

Vùng Nam QL1A bao gồm một phần của huyện Vĩnh Lợi, TP. Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, Giá Rai và toàn bộ huyện Đông Hải với tổng diện tích hơn 100.000ha, nằm về hướng biển. Trong đó, đất chuyên NTTS khoảng 63.000ha và đất NTTS kết hợp làm muối, trồng rừng, nuôi tôm quảng canh… hơn 3.200ha. Ở đây còn gọi là “thủ phủ” của mô hình nuôi tôm công nghiệp nhưng đang tồn tại nhiều bất cập về hạ tầng vùng nuôi.

Vụ tôm năm 2012 đã bắt đầu kể từ tháng 3/2012. Không phải chỉ có cây lúa hay rau màu… mà nguồn nước phục vụ NTTS cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự sống còn của con tôm.

Theo cơ quan chuyên môn, nguồn nước cho NTTS (chủ yếu là tôm sú) yêu cầu về chất lượng rất nghiêm ngặt. Đó là nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng ô xy hòa tan trong nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc hại trong nước thấp hoặc không có thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, H2S… Qua các kết quả khảo sát, đo đạc ở vùng Nam QL1A cho thấy, những vùng nuôi tôm tập trung dễ bị ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ ao nuôi chưa xử lý đưa ra môi trường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, chứa các mầm bệnh tôm, chất kháng sinh. Hàm lượng vi sinh đo được trong nước còn khá cao, đặc biệt vào giai đoạn mùa khô và đầu mùa mưa trên hệ thống kênh, rạch trong vùng.

Để sử dụng nguồn nước cho NTTS đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững, các cơ quan quản lý thủy sản, quản lý thủy lợi cần có các giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp giáo dục cộng đồng… làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước.

Kênh lấy nước cho NTTS thuộc địa bàn xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình) bị bồi lắng nghiêm trọng.

Tôm khỏe, tôm bệnh “tắm chung”

Theo Sở NN&PTNT, năm 2011 là năm buồn nhiều hơn vui của những người sống bằng nghề nuôi tôm sú. Vụ tôm 2011, Bạc Liêu có gần 50% diện tích nuôi tôm sú thất bại, thất thu hàng trăm tỷ đồng. Ông Phạm Hoàng Giang, Chi cục trưởng Chi cục NTTS tỉnh, đánh giá: “Tôm chết là do nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân dẫn đến lây lan, phát tán dịch bệnh là do nguồn nước dưới kênh bị ô nhiễm. Và hậu quả của chuyện tôm khỏe, tôm bệnh “tắm chung” dòng nước làm cho dịch bệnh lây lan rất khó kiểm soát”. Bàn về vấn đề này, ông Giang nói thêm, ở vùng Nam QL1A hiện nay, một con kênh cấp nước, xả nước NTTS xài chung 3 - 4 ấp hoặc 2 - 3 xã là chuyện bình thường. Ngay cả những vùng quy hoạch chuyên canh tôm công nghiệp, bán công nghiệp của tỉnh như: Long Điền Đông (huyện Đông Hải); Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình ) và Vĩnh Trạch Đông (TP. Bạc Liêu) cũng chưa có đường cấp nước và lấy nước riêng. Quy định là khi có dịch bệnh xảy ra, người nuôi tôm phải xử lý triệt để mầm bệnh trước khi thải ra môi trường. Thế nhưng, những vùng nuôi tôm quảng canh hay tôm - lúa chẳng ai quan tâm thực hiện điều này. Và hệ lụy của việc làm thiếu ý thức ấy cộng với những bất cập của hệ thống thủy lợi đã làm cho dịch bệnh lây lan rất nhanh.

Ông Trần Văn Hoàng, ngụ ấp Rạch Thăng, xã Vĩnh Trạch, TP. Bạc Liêu, bức xúc: “Người nuôi tôm chúng tôi rất cần một nguồn nước sạch, không dịch bệnh. Việc xài chung một nguồn nước như những năm qua đã khiến cho người nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, nhiều người đã phải bỏ xứ đi nơi khác làm ăn, chứ cứ nuôi kiểu này thì chết chùm cả đám”.

Theo ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh: “Kinh phí tỉnh dành cho thủy lợi, thủy nông nội đồng hàng năm không đáng kể (hơn 100 tỷ đồng cho cả vùng Nam và Bắc của tỉnh). Vì vậy, nó chỉ đủ đầu tư cho việc nạo vét. Và trong khi nạo vét chưa xong một vòng thì ở điểm đầu đã bị bồi lắng như cũ. Cứ thế mà kinh phí đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mới không còn, mà chủ yếu dựa vào nguồn vốn tài trợ nước ngoài, vốn trái phiếu Chính phủ và ngân sách Trung ương, nhưng rất hạn chế”.

Điều này cho thấy, mục tiêu về diện tích và sản lượng tôm mà tỉnh mong muốn đang tỷ lệ nghịch với sự đáp ứng về hạ tầng vùng nuôi. Mức độ thâm canh con tôm ngày càng cao, ô nhiễm môi trường gay gắt… là những gì đang diễn ra ở vùng Nam QL1A hiện nay và đẩy nghề nuôi tôm rơi vào một thách thức lớn.

Nạo vét kênh thủy lợi phục vụ NTTS ở vùng Nam QL1A. Ảnh: T.Đ

Bất cập… kéo dài

Theo đánh giá của cơ quan quản lý thủy lợi, nhờ nằm tiếp giáp với biển nên hoạt động NTTS ở vùng Nam QL1A có nhiều thuận lợi. Đó là nguồn nước mặn dồi dào, việc lấy nước và xả nước ra biển rất nhanh. Song, bất lợi do thiên nhiên mang lại cũng không nhỏ: hệ thống kênh, rạch bị phù sa bồi lắng quá nhanh, cứ khoảng 3 năm là phải nạo vét một lần. Nguyên nhân, do 24 cửa sông, kênh, rạch nằm dọc đê biển của tỉnh đều thông trực tiếp ra biển mà không được ngăn bởi hệ thống cống để hạn chế phù sa. Bên cạnh đó, hệ thống thủy nông nội đồng ở vùng này hiện chỉ đạt từ 65 - 70%, chưa đáp ứng yêu cầu cấp - thoát nước, chưa đồng bộ với hệ thống kênh cấp 1, cấp 2. Đáng chú ý là từ trước đến nay, ở “thủ phủ” tôm công nghiệp này chưa bao giờ có một hệ thống kênh riêng biệt để cấp và thoát nước dành cho NTTS.

Mục tiêu của tỉnh đến năm 2015, tổng sản lượng tôm sú thu được từ các hoạt động nuôi trồng khoảng 87.700 tấn. Trong đó, thu hoạch từ mô hình nuôi công nghiệp - bán công nghiệp (CN-BCN) đạt khoảng 52.500 tấn trên diện tích thả nuôi 15.000ha. Tuy nhiên, vụ nuôi năm 2012, diện tích nuôi tôm CN-BCN mà ngành Nông nghiệp phấn đấu chỉ 12.000ha. Nguyên nhân là do hạ tầng vùng nuôi (điện, đường giao thông và thủy lợi) không đảm bảo.

Hệ thống thủy lợi của tỉnh được quy hoạch từ hồi thập niên 90 của thế kỷ trước. Ông Lai Thanh Ẩn, giải thích: “Khi ấy, quy hoạch và thiết kế thủy lợi chỉ tính tới chuyện phục vụ nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa (ngăn mặn, tiêu úng, xổ phèn, giữ ngọt, dẫn ngọt) nên chỉ quan tâm đào các kênh trục (tuyến kênh chính). Do đó, khi chuyển sang NTTS, đặc biệt với mức độ thâm canh ngày càng cao, khiến nó không còn phù hợp với nhu cầu thực tế. Với hệ thống thủy lợi hiện có, rất khó để quản lý tốt được môi trường theo yêu cầu sản xuất”. Theo đánh giá của Sở NN&PTNT, môi trường nước đang có dấu hiệu xấu đi do ý thức cộng đồng chưa cao, nguồn nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt), thủy sản, công nghiệp, dân sinh… thải trực tiếp xuống kênh, rạch quá nhiều. Từ đó, sau 3 năm nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp, một số diện tích ở khu vực ven biển Đông đã có dấu hiệu “sa mạc hóa”.

Sự không đồng bộ giữa thực tiễn phát sinh với quy hoạch đang trở thành rào cản của người nuôi tôm. Quy hoạch quá cũ và chậm thay đổi, bổ sung khiến cho thủy lợi cũng không thể ngăn chặn hoặc hạn chế được tác động do biến đổi khí hậu.

Tỉnh đang có hàng chục dự án xây mới các công trình thủy lợi đa mục tiêu phục vụ NTTS như: đê, cống, đập, âu thuyền, phát triển hệ thống kênh dẫn nước… nhưng tiến độ triển khai rất chậm, thậm chí, nhiều dự án vẫn còn nằm trên giấy. Với thực trạng này, những khó khăn, bất cập về thủy lợi cho NTTS ở vùng Nam QL1A nói riêng và toàn tỉnh nói chung chưa biết bao giờ mới được tháo gỡ.

Tấn Đạt

Kỳ tới: Khó khăn, bất cập do đâu?

Biến vật liệu nạo vét thành nguồn lực tài nguyên

Cà Mau là địa phương có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc, với khoảng 14.000 km, cùng hơn 310 km bờ biển, nhiều cửa sông, cửa biển và hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất, giao thông thuỷ, phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất, xâm nhập mặn, suy giảm nguồn bùn cát từ thượng nguồn và diễn biến bồi - xói ngày càng phức tạp, nhiều tuyến kênh, cửa sông, cửa biển nhanh chóng bị bồi lắng, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thoát nước, giao thông thuỷ, sản xuất và đời sống người dân.

Làng nghề khô Cái Đôi Vàm thiếu lao động thời vụ

Mở rộng sản xuất để đáp ứng đơn đặt hàng tăng, song nhiều cơ sở chế biến khô tại xã Cái Đôi Vàm đối mặt tình trạng khó tìm nhân công dù mức tiền công đưa ra tương đối khá. Điều này đang đặt ra bài toán về giữ chân nguồn lao động tại chỗ.

Năm Căn khẩn trương cải tạo ao đầm, chủ động cho vụ nuôi mới

Bước vào thời điểm cải tạo ao đầm theo khung thời gian quy định, nhiều hộ nuôi tôm trên địa bàn xã Năm Căn đang khẩn trương sên vét, xử lý môi trường, chuẩn bị cho vụ nuôi mới. Cùng với nâng cao hiệu quả sản xuất, người dân ngày càng chú trọng bao ví, quản lý bùn đất sau cải tạo, góp phần bảo vệ môi trường và nguồn nước phục vụ sản xuất.

Nấm mối đen - Mô hình mới từ ứng dụng công nghệ

Từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, người dân xã Vĩnh Lộc đang từng bước chuyển sang những mô hình ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao giá trị trên cùng diện tích. Trong đó, mô hình trồng nấm mối đen trong nhà kín của ông Nguyễn Quốc Thái, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vĩnh Lộc, đang cho thấy hiệu quả bước đầu và mở ra một hướng sản xuất mới.

“Lộc trời” tép chấu cho thu nhập tiền triệu

Con tép chấu sinh sôi trong tự nhiên, theo con nước vào vuông tôm. Tại xã Vĩnh Lộc, nguồn lợi từ sản vật “lộc trời” này mang lại khoản thu nhập tiền triệu cho người dân.

Gieo sinh kế nhỏ, gặt thành quả lớn

Từ diện tích đất trống, mặt nước và nguồn lực sẵn có, người dân xã Khánh Hưng đang từng bước tạo dựng những mô hình sinh kế phù hợp, mở ra hướng phát triển kinh tế thiết thực và tạo động lực giảm nghèo bền vững ở cơ sở.

Ứng dụng công nghệ vào sản xuất lúa gạo

Cà Mau có hơn 185.000 ha canh tác lúa mỗi năm, sản lượng bình quân trên 1,8 triệu tấn/năm. Toàn tỉnh có hơn 22 cơ sở xay xát, chế biến lúa gạo, với tổng công suất khoảng 714 ngàn tấn/năm.

Sò huyết – “của để dành” trong vuông tôm

Với điều kiện tự nhiên phù hợp, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Năm Căn đang phát triển mô hình nuôi sò huyết kết hợp trong vuông tôm quảng canh cải tiến. Không đòi hỏi quá nhiều chi phí đầu tư, lại có thể mang về nguồn thu đáng kể sau nhiều tháng nuôi, sò huyết đang dần trở thành một trong những đối tượng thủy sản được người dân quan tâm, góp phần nâng cao giá trị trên cùng diện tích sản xuất.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia

Sáng 27/8, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị chuyên đề triển khai thực hiện các Chương trình Mục tiêu quốc gia (MTQG) và phong trào thi đua năm 2026. Hội nghị được kết nối trực tuyến đến các địa phương trong tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Sử chủ trì hội nghị.

Nông dân Ninh Thạnh Lợi tham gia sản xuất 30 ha lúa chất lượng cao và phát thải thấp

Ngày 26/8, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau phối hợp UBND xã Ninh Thạnh Lợi tổ chức hội nghị triển khai mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh cho hơn 30 hộ dân tại ấp Cai Giảng.