Thứ ba, 21-4-26 19:30:31
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng Nam quốc lộ 1A: Những bất cập cần được tháo gỡ

Báo Cà Mau

Năm 2011, tổng giá trị sản xuất của ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đạt hơn 11.000 tỷ đồng, chiếm 51% GDP của tỉnh. Trong đó, khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS) chiếm 70% giá trị. Điều này cho thấy, tiềm năng và thế mạnh kinh tế thủy sản của tỉnh rất lớn và tập trung nhiều ở vùng Nam Quốc lộ (QL) 1A. Tuy nhiên, hệ thống thủy lợi cho NTTS ở khu vực này chưa được đầu tư đúng mức. Và cần làm gì để đạt được mục tiêu diện tích nuôi tôm công nghiệp 15.000ha vào năm 2015 trong điều kiện hạ tầng vùng nuôi bộc lộ rất nhiều bất cập, khiếm khuyết đang trở thành vấn đề đáng bàn.

Bài 1: Tình hình mới, quy hoạch cũ

Hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS ở vùng Nam QL1A của tỉnh hiện nay là dành cho trồng trọt được quy hoạch từ thời tỉnh Minh Hải (cũ). Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bạc Liêu chưa có quy hoạch thủy lợi nào được duyệt dành cho con tôm.

Thủy sản cũng cần “nhất nước”

Vùng Nam QL1A bao gồm một phần của huyện Vĩnh Lợi, TP. Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, Giá Rai và toàn bộ huyện Đông Hải với tổng diện tích hơn 100.000ha, nằm về hướng biển. Trong đó, đất chuyên NTTS khoảng 63.000ha và đất NTTS kết hợp làm muối, trồng rừng, nuôi tôm quảng canh… hơn 3.200ha. Ở đây còn gọi là “thủ phủ” của mô hình nuôi tôm công nghiệp nhưng đang tồn tại nhiều bất cập về hạ tầng vùng nuôi.

Vụ tôm năm 2012 đã bắt đầu kể từ tháng 3/2012. Không phải chỉ có cây lúa hay rau màu… mà nguồn nước phục vụ NTTS cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự sống còn của con tôm.

Theo cơ quan chuyên môn, nguồn nước cho NTTS (chủ yếu là tôm sú) yêu cầu về chất lượng rất nghiêm ngặt. Đó là nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng ô xy hòa tan trong nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc hại trong nước thấp hoặc không có thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, H2S… Qua các kết quả khảo sát, đo đạc ở vùng Nam QL1A cho thấy, những vùng nuôi tôm tập trung dễ bị ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ ao nuôi chưa xử lý đưa ra môi trường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, chứa các mầm bệnh tôm, chất kháng sinh. Hàm lượng vi sinh đo được trong nước còn khá cao, đặc biệt vào giai đoạn mùa khô và đầu mùa mưa trên hệ thống kênh, rạch trong vùng.

Để sử dụng nguồn nước cho NTTS đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững, các cơ quan quản lý thủy sản, quản lý thủy lợi cần có các giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp giáo dục cộng đồng… làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước.

Kênh lấy nước cho NTTS thuộc địa bàn xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình) bị bồi lắng nghiêm trọng.

Tôm khỏe, tôm bệnh “tắm chung”

Theo Sở NN&PTNT, năm 2011 là năm buồn nhiều hơn vui của những người sống bằng nghề nuôi tôm sú. Vụ tôm 2011, Bạc Liêu có gần 50% diện tích nuôi tôm sú thất bại, thất thu hàng trăm tỷ đồng. Ông Phạm Hoàng Giang, Chi cục trưởng Chi cục NTTS tỉnh, đánh giá: “Tôm chết là do nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân dẫn đến lây lan, phát tán dịch bệnh là do nguồn nước dưới kênh bị ô nhiễm. Và hậu quả của chuyện tôm khỏe, tôm bệnh “tắm chung” dòng nước làm cho dịch bệnh lây lan rất khó kiểm soát”. Bàn về vấn đề này, ông Giang nói thêm, ở vùng Nam QL1A hiện nay, một con kênh cấp nước, xả nước NTTS xài chung 3 - 4 ấp hoặc 2 - 3 xã là chuyện bình thường. Ngay cả những vùng quy hoạch chuyên canh tôm công nghiệp, bán công nghiệp của tỉnh như: Long Điền Đông (huyện Đông Hải); Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình ) và Vĩnh Trạch Đông (TP. Bạc Liêu) cũng chưa có đường cấp nước và lấy nước riêng. Quy định là khi có dịch bệnh xảy ra, người nuôi tôm phải xử lý triệt để mầm bệnh trước khi thải ra môi trường. Thế nhưng, những vùng nuôi tôm quảng canh hay tôm - lúa chẳng ai quan tâm thực hiện điều này. Và hệ lụy của việc làm thiếu ý thức ấy cộng với những bất cập của hệ thống thủy lợi đã làm cho dịch bệnh lây lan rất nhanh.

Ông Trần Văn Hoàng, ngụ ấp Rạch Thăng, xã Vĩnh Trạch, TP. Bạc Liêu, bức xúc: “Người nuôi tôm chúng tôi rất cần một nguồn nước sạch, không dịch bệnh. Việc xài chung một nguồn nước như những năm qua đã khiến cho người nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, nhiều người đã phải bỏ xứ đi nơi khác làm ăn, chứ cứ nuôi kiểu này thì chết chùm cả đám”.

Theo ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh: “Kinh phí tỉnh dành cho thủy lợi, thủy nông nội đồng hàng năm không đáng kể (hơn 100 tỷ đồng cho cả vùng Nam và Bắc của tỉnh). Vì vậy, nó chỉ đủ đầu tư cho việc nạo vét. Và trong khi nạo vét chưa xong một vòng thì ở điểm đầu đã bị bồi lắng như cũ. Cứ thế mà kinh phí đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mới không còn, mà chủ yếu dựa vào nguồn vốn tài trợ nước ngoài, vốn trái phiếu Chính phủ và ngân sách Trung ương, nhưng rất hạn chế”.

Điều này cho thấy, mục tiêu về diện tích và sản lượng tôm mà tỉnh mong muốn đang tỷ lệ nghịch với sự đáp ứng về hạ tầng vùng nuôi. Mức độ thâm canh con tôm ngày càng cao, ô nhiễm môi trường gay gắt… là những gì đang diễn ra ở vùng Nam QL1A hiện nay và đẩy nghề nuôi tôm rơi vào một thách thức lớn.

Nạo vét kênh thủy lợi phục vụ NTTS ở vùng Nam QL1A. Ảnh: T.Đ

Bất cập… kéo dài

Theo đánh giá của cơ quan quản lý thủy lợi, nhờ nằm tiếp giáp với biển nên hoạt động NTTS ở vùng Nam QL1A có nhiều thuận lợi. Đó là nguồn nước mặn dồi dào, việc lấy nước và xả nước ra biển rất nhanh. Song, bất lợi do thiên nhiên mang lại cũng không nhỏ: hệ thống kênh, rạch bị phù sa bồi lắng quá nhanh, cứ khoảng 3 năm là phải nạo vét một lần. Nguyên nhân, do 24 cửa sông, kênh, rạch nằm dọc đê biển của tỉnh đều thông trực tiếp ra biển mà không được ngăn bởi hệ thống cống để hạn chế phù sa. Bên cạnh đó, hệ thống thủy nông nội đồng ở vùng này hiện chỉ đạt từ 65 - 70%, chưa đáp ứng yêu cầu cấp - thoát nước, chưa đồng bộ với hệ thống kênh cấp 1, cấp 2. Đáng chú ý là từ trước đến nay, ở “thủ phủ” tôm công nghiệp này chưa bao giờ có một hệ thống kênh riêng biệt để cấp và thoát nước dành cho NTTS.

Mục tiêu của tỉnh đến năm 2015, tổng sản lượng tôm sú thu được từ các hoạt động nuôi trồng khoảng 87.700 tấn. Trong đó, thu hoạch từ mô hình nuôi công nghiệp - bán công nghiệp (CN-BCN) đạt khoảng 52.500 tấn trên diện tích thả nuôi 15.000ha. Tuy nhiên, vụ nuôi năm 2012, diện tích nuôi tôm CN-BCN mà ngành Nông nghiệp phấn đấu chỉ 12.000ha. Nguyên nhân là do hạ tầng vùng nuôi (điện, đường giao thông và thủy lợi) không đảm bảo.

Hệ thống thủy lợi của tỉnh được quy hoạch từ hồi thập niên 90 của thế kỷ trước. Ông Lai Thanh Ẩn, giải thích: “Khi ấy, quy hoạch và thiết kế thủy lợi chỉ tính tới chuyện phục vụ nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa (ngăn mặn, tiêu úng, xổ phèn, giữ ngọt, dẫn ngọt) nên chỉ quan tâm đào các kênh trục (tuyến kênh chính). Do đó, khi chuyển sang NTTS, đặc biệt với mức độ thâm canh ngày càng cao, khiến nó không còn phù hợp với nhu cầu thực tế. Với hệ thống thủy lợi hiện có, rất khó để quản lý tốt được môi trường theo yêu cầu sản xuất”. Theo đánh giá của Sở NN&PTNT, môi trường nước đang có dấu hiệu xấu đi do ý thức cộng đồng chưa cao, nguồn nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt), thủy sản, công nghiệp, dân sinh… thải trực tiếp xuống kênh, rạch quá nhiều. Từ đó, sau 3 năm nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp, một số diện tích ở khu vực ven biển Đông đã có dấu hiệu “sa mạc hóa”.

Sự không đồng bộ giữa thực tiễn phát sinh với quy hoạch đang trở thành rào cản của người nuôi tôm. Quy hoạch quá cũ và chậm thay đổi, bổ sung khiến cho thủy lợi cũng không thể ngăn chặn hoặc hạn chế được tác động do biến đổi khí hậu.

Tỉnh đang có hàng chục dự án xây mới các công trình thủy lợi đa mục tiêu phục vụ NTTS như: đê, cống, đập, âu thuyền, phát triển hệ thống kênh dẫn nước… nhưng tiến độ triển khai rất chậm, thậm chí, nhiều dự án vẫn còn nằm trên giấy. Với thực trạng này, những khó khăn, bất cập về thủy lợi cho NTTS ở vùng Nam QL1A nói riêng và toàn tỉnh nói chung chưa biết bao giờ mới được tháo gỡ.

Tấn Đạt

Kỳ tới: Khó khăn, bất cập do đâu?

Giải ngân 900 triệu đồng nguồn vốn vay Quỹ Hỗ trợ nông dân

32 hộ hội viên nông dân xã Năm Căn được giải ngân số tiền vay 900 triệu đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân để đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Khai thác phế phẩm, nâng giá trị sản xuất nông nghiệp

Tự học hỏi, mày mò nghiên cứu và chế tạo một số máy móc phục vụ xay, gia công chả cá phi, anh Trần Văn Hội, ấp Sơn Trắng, xã Vĩnh Lộc đã thành công với mô hình tận dụng phế phẩm cá Phi làm thức ăn nuôi cá lóc mùng. Những phần tưởng chừng bỏ đi nay trở thành nguồn thức ăn chính cho cá nuôi. Mô hình khép kín, vừa tiết kiệm chi phí, vừa thân thiện với môi trường đang dần khẳng định hiệu quả theo hướng nông nghiệp tuần hoàn.

Cà Mau nỗ lực ứng phó hạn mặn, khan hiếm nước sạch

Mùa khô năm 2026 tại Cà Mau đang diễn ra trong thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài và xâm nhập mặn gia tăng, khiến nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm. Tình trạng thiếu nước sinh hoạt đã xuất hiện cục bộ tại nhiều khu vực nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.

Hỗ trợ nông dân tìm đầu ra cho lúa đông xuân

Thời điểm này, nông dân trên địa bàn tỉnh Cà Mau đang tập trung thu hoạch dứt điểm vụ lúa đông xuân 2025-2026. Dù năng suất đạt khá cao nhưng giá lúa giảm, trong khi chi phí sản xuất như phân bón, xăng dầu, thuê máy gặt đập… lại tăng cao, khiến lợi nhuận của bà con giảm. Trước tình hình này, chính quyền các địa phương đang tích cực tìm giải pháp hỗ trợ nông dân.

"Cây thoát nghèo" trên đất giồng ven biển

Tại khóm Biển Tây A (phường Hiệp Thành), trên diện tích đất canh tác kém hiệu quả trước đây, mô hình trồng măng tây xanh đang mở ra hướng đi mới khi giúp nhiều hộ dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn thu nhập ổn định.

Hợp tác xã - Trụ cột quan trọng tái cấu trúc nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp ngày càng đối mặt với nhiều thách thức từ biến động thị trường, chi phí đầu vào tăng cao, đến yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng nông sản, vì vậy, việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết đang trở thành xu thế tất yếu. Trong tiến trình đó, các hợp tác xã (HTX) trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã và đang phát huy vai trò “cầu nối” giữa nông dân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra và cải thiện thu nhập cho người dân.

Cộng đồng - “lá chắn thép” giữ rừng mùa khô

Hiện nay, nắng nóng gay gắt, nhiều diện tích rừng đang dự báo cháy cấp 4 (cấp nguy hiểm). Trước tình hình đó, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được duy trì ở trạng thái sẵn sàng cao. Đáng chú ý, người dân sống trong và ven rừng đang phát huy vai trò như “lá chắn thép” trong bảo vệ rừng mùa khô. Ghi nhận tại lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ.

Tín hiệu tích cực từ trồng rong câu Thái kết hợp nuôi tôm

Với khả năng lọc nước, cải thiện môi trường và mang lại thu nhập kép, mô hình trồng rong câu Thái tại xã Đầm Dơi đang mở ra hướng đi cho kinh tế tuần hoàn, hướng đến mục tiêu phát triển lên 1.000 ha trong năm tới.

Khảo sát phát triển vùng nuôi cua gắn du lịch sinh thái tại Hưng Mỹ

Ngày 4/4, Tập đoàn KLC Group (TP Hồ Chí Minh) có buổi làm việc với xã Hưng Mỹ về việc phối hợp khảo sát, xúc tiến đầu tư vùng nuôi cua kết hợp du lịch sinh thái trên địa bàn.

Thời tiết khắc nghiệt, tôm nuôi đối mặt nguy cơ thiệt hại

Diễn biến thời tiết bất lợi đang khiến người nuôi tôm tại nhiều địa phương trong tỉnh Cà Mau gặp khó khăn. Dù đã chủ động nhiều giải pháp nhằm ổn định môi trường ao nuôi, không ít hộ vẫn rơi vào cảnh thiệt hại khi tôm nổi đầu, chết hàng loạt, buộc phải bán sớm khi chưa đạt kích cỡ.