Thứ tư, 17-6-26 10:53:00
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nghề hầm than đen mặt, sáng lòng

Báo Cà Mau (CMO) Ở Cà Mau có nghề hầm than đước đã tồn tại ngót trăm năm. Qua nhiều biến cố lịch sử, nghề này cũng thăng trầm theo thời gian. Hiện nay, nhu cầu về than đun nấu và than dùng trong công nghiệp rất lớn nên cần có hướng mở để nghề chế biến than phát triển bền vững.

“Không nhớ rõ những lò than ấy có từ bao lâu rồi, chỉ nghe cha tôi kể lại, từ những năm 1920, khi vừa tới đây sinh sống đã có những lò hầm than đước tại xứ Chợ Thủ (nay là xã Tam Giang Tây, huyện Ngọc Hiển). Nhưng đến mãi năm 1954, nghề hầm than đước này mới rộ lên nhiều, trải dài từ xã Tân Duyệt cho đến xã Tam Giang Tây (tính theo vị trí hiện nay). Từ năm 1955, than đước Cà Mau đã được bán khắp Nam Kỳ lục tỉnh”, bà Tư Phiến (Dư Thị Phiến), người từng có thời gian dài gắn bó với nghề hầm than đước tại Chợ Thủ, nhớ lại.

Sau khi phân loại, than sẽ được cho vào bao, cân và chuyển đi tiêu thụ.

Một thời hoàng kim

Bà Tư Phiến, một người lớn lên từ thủ phủ của nghề hầm than đước Cà Mau, nay đã 79 tuổi, cho biết, nghề này đã gắn liền với ký ức thuở thanh xuân của bà. Bà vẫn nhớ như in những ngày tháng huy hoàng của nghề khi ấy.

Vào những năm 50 của thế kỷ trước, khi những cánh rừng đước còn bạt ngàn, đước dùng để hầm than chỉ lấy phần thân, không dùng phần gốc như bây giờ. Các lò hầm than lớn nhỏ trải dài, nhưng tập trung nhiều nhất tại khu Chợ Thủ, có đến 200 lò.

Lò than lớn khi đó có thể cho ra những mẻ than hơn 20 tấn, tương đương 40-45 m3 gỗ. Được dùng nhiều cũng có nguyên do của nó, bởi so với những loại than gỗ lúc bấy giờ thì than đước cháy lâu hơn, nhiệt cao hơn nên người dân chuộng dùng.

Gia đình bà Tư Phiến ngày xưa cũng có 2 lò hầm than lớn, do anh bà làm chủ. Nguồn kinh tế chính của gia đình lúc ấy nhờ vào những lò than. Nhu cầu buôn bán than tăng cao, người người, nhà nhà đều xây lò hầm than để bán. Những lò than dọc theo triền sông của Chợ Thủ mọc lên như nấm, lúc nào cũng nghi ngút khói.

Bà Tư Phiến hồi tưởng: “Thấy cái lò lớn mấy chục mét khối vậy chứ không có miếng xi-măng, cốt thép nào như bây giờ. Lò được xây chỉ từ gạch thẻ và bùn dưới sông mà to chừng ấy. Cái nóc lò hình bầu dục, không cần một khung giá đỡ mà chỉ nhắm chừng xây dần lên như vậy”.

Chủ những lò than là người dân tại địa phương, còn “tay rìu” là người dân tứ xứ. Thời đó dân cư thưa thớt, người đốn củi phải vào sâu trong rừng để chọn những cây đước lớn, vì than làm từ những cây lớn có giá hơn.

Dù nguy hiểm, cực khổ nhưng các “tay rìu” bấy giờ nhiều vô số kể, bởi lẽ không chỉ cung ứng củi đước tại Cà Mau, mà củi còn được chở đến tận xứ Sóc Trăng, Hậu Giang nên nghề này nuôi đến hàng ngàn dân nghèo.

Rồi đến đầu năm 1960, quân dân ta phát động phong trào Đồng khởi lật đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giặc càn quét lực lượng của ta ngày đêm, những lò than bị bom đạn phá sập, rừng đước chết trụi bởi chất độc dioxin, người dân phải bỏ nhà cửa, chuyển vào rừng để tránh đạn. Những lò than nguội lạnh kể từ đó.

Hầm than tuy vất vả nhưng nhiều người vẫn quyết tâm theo nghề.

Thời của than xuất khẩu 

Khi hoà bình thống nhất, người dân trở lại quê hương. Chính quyền cách mạng tập trung tái thiết nên việc quản lý khai thác rừng cũng nghiêm ngặt hơn, người dân thiếu nguồn cung củi, nên đa phần bỏ sang làm nghề khác. Những lò than lớn không còn, chỉ còn những lò hầm than nhỏ dùng cho gia đình.

Đến những năm 2000, chỉ còn lại một số ít người làm nghề hầm than, do việc sản xuất than đước gây không ít khó khăn trong công tác quản lý tài nguyên. Đa phần những hộ làm than tại địa phương là những hộ nghèo, nguồn kinh tế chính của gia đình phụ thuộc vào những mẻ than nhỏ.

Để đưa nghề này vào quy củ, năm 2006, chính quyền địa phương đã tìm hướng mở cho người dân làm nghề này bằng cách tập trung họ lại thành lập những hợp tác xã (HTX) hầm than đước. Việc thành lập các HTX góp phần giúp việc quản lý khai thác rừng thuận lợi hơn và giúp cái nghề ngót gần trăm năm tuổi của Cà Mau được lưu giữ.

Điển hình như HTX hầm than đước Tân Phát, xã Tân Ân Tây, huyện Ngọc Hiển với 12 thành viên cùng góp vốn. Hơn 10 năm hoạt động, quy mô ngày càng mở rộng, nay đã có 21 lò với sản lượng bình quân mỗi tháng gần 100 tấn than đước, bán đi khắp cả nước.

Cô Lê Thị Bích, thành viên HTX, cho biết: “Than ở đây ra lò có chất lượng cao nên nhiều nơi rất chuộng. Hiện tại sản phẩm của HTX không chỉ bán trong nước mà còn xuất khẩu”. Cô Lê Thị Bích cho biết, năm vừa rồi HTX Tân Phát đã xuất khẩu qua Ả Rập 50 tấn than ngọn (loại than có đường kính nhỏ, thường là ở phần ngọn của cây đước).

Cũng tại xã Tân Ân Tây, HTX hầm than đước Đồng Khởi vừa ra đời hơn 1 năm nay, có 9 lò hầm than với trữ lượng 6-8 tấn thành phẩm mỗi lò. Các lò được đặt tại mỗi hộ thành viên chứ không tập trung như HTX hầm than đước Tân Phát, nhân công chủ yếu là người trong gia đình phụ trách. Anh Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc HTX hầm than đước Đồng Khởi, cho biết: “Quy mô của những lò than tại HTX nhỏ, ít tốn chi phí thuê mướn nhân công nên thu nhập của chủ các lò than khá ổn. Bình quân mỗi lò trừ đi các chi phí ban đầu, thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng”.

Tưởng chừng như đã lụi tàn, nhưng một lần nữa nghề hầm than lại vươn mình sống dậy. Hiện nay, giá than đang dao động từ 10.000-11.000 đồng/kg bán ra từ lò. Với mức giá này, tuy lời lãi không cao nhưng cũng giúp người dân làm nghề hầm than có cuộc sống ổn định hơn.

Rồi đây nghề hầm than đước Cà Mau có phát triển hơn thời hoàng kim những năm 1955-1960? Dù sao thì việc sản xuất than đước cần sự quan tâm nhiều hơn nữa để nó phát triển bền vững, để cái nghề trăm năm của xứ Mũi Cà Mau vẫn trường tồn./.

Ông Đỗ Văn Sơ, Chủ tịch Liên minh các HTX tỉnh Cà Mau, cho biết: “Hơn 100 năm hình thành và duy trì, đến nay, nghề hầm than vẫn giữ nguyên như cách làm của ông cha trước đây. Vì thế, chúng ta cần thay đổi công nghệ chế biến, phương cách kinh doanh nhằm giúp sản phẩm không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. Khó khăn duy nhất của các HTX hầm than đước tại Tân Ân Tây hiện nay là xây dựng một hệ thống quản lý chuẩn mực. Thời gian tới, chúng tôi sẽ cố gắng hỗ trợ, định hướng cho bà con xây dựng và phát triển theo xu hướng hiện đại. Có như vậy bà con mới có thể hưởng hết các ưu đãi để phát triển lâu dài".

Khánh Phương

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.