Chủ nhật, 11-1-26 06:13:35
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM SỰ KIỆN TẬP KẾT RA BẮC (1954-2024)

Nhớ những ân tình trên đất Bắc

Báo Cà Mau Trong rất nhiều câu chuyện của các cô chú đi tập kết 1954, mỗi người một độ tuổi, một vị trí công tác và ở những địa phương khác nhau, nhưng hầu như câu chuyện nào cũng nhắc đến sự cưu mang, nhường cơm sẻ áo của đồng bào miền Bắc.

Cầu Hiền Lương (nhìn từ bờ Bắc), nơi chia cắt hai miền Nam - Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ảnh: THANH CHI

Cầu Hiền Lương (nhìn từ bờ Bắc), nơi chia cắt hai miền Nam - Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ảnh: THANH CHI

Những chén cháo nghĩa tình

Quá trình gặp gỡ nhân chứng, tìm hiểu tư liệu viết bài tập kết, tôi tiếp cận được những trang hồi ức đầy xúc động của ông Phan Văn Tạng (từ Bảo tàng tỉnh Cà Mau). Ông Phan Văn Tạng quê ở ấp Kiến Vàng, xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân. Năm 1954, ông là bộ đội (thuộc Ðại đội 680, Tiểu đoàn 412, Phân liên khu miền Tây Nam Bộ) tập kết ra Bắc. Từ năm 1960-1966, ông làm việc tại Bảo tàng Quân đội. Năm 1975, ông chuyển công tác về Cà Mau. Giai đoạn 1980-1990, ông giữ chức vụ Giám đốc Bảo tàng tỉnh Minh Hải (nay là Cà Mau, Bạc Liêu). Ông mất năm 2022.

Trong mấy chục trang hồi ức viết tay, có nhiều đoạn kể về những ân tình trên đất Bắc, xin được trích ra đây: “... Ngày thứ năm đến bến Sầm Sơn, tàu lớn, bãi cạn không cập bến được nên phải đậu cách khoảng 1 km. Tuy xa nhưng chúng tôi vẫn thấy rõ trên bờ không khí náo nhiệt, trống rung cờ mở, tiếng hô khẩu hiệu âm vang, lan toả trên mặt sóng biển. Những chiếc thuyền của ngư dân vun vút lao ra đón chúng tôi. Các đồng chí thuỷ thủ tàu Ba Lan thả thang dây cho chúng tôi xuống thuyền”.

Sau khi đến bến, nghỉ lại lán trại vài ngày, đơn vị bắt đầu hành quân vào thị xã Thanh Hoá. Tình cảm người dân nơi này để lại ấn tượng đẹp trong ông: “Ðảng uỷ và đồng bào đón chúng tôi hết sức nồng nhiệt. Ðồng chí Trưởng thôn dẫn chúng tôi đến từng nhà bàn giao. Bà con vui vẻ tiếp nhận.

Tối hôm ấy, một điều xảy ra hết sức bất ngờ là mãi đến 9-10 giờ đêm mà không thấy bà con ăn cơm. Hỏi ra mới biết, Thanh Hoá năm ấy vỡ đê, mất mùa, dân chúng không có thóc gạo mà phải dùng lá rau khoai lang trộn với trấu giã mịn hấp lên ăn. Thậm chí có người còn ra đường ray xe lửa đào rau má làm bữa, nên có câu: “Dân Thanh Hoá, ăn rau má, phá đường tàu”. Thế mà bộ đội chúng tôi được ăn 27 kg gạo mỗi tháng, bằng 900 gram/ngày. Bữa ăn nào cũng có thịt cá, trong khi đó bọn trẻ từ sáng đến chiều tối không có một hột cơm trong bụng. Nhưng mỗi khi dọn cơm ra sân đình thì không bao giờ thấy bóng bọn trẻ con đến nhìn ngó. Chúng tôi khâm phục sự lãnh đạo của Ðảng bộ và xúc động trước những nghĩa cử của Nhân dân. Nhiều đồng chí cảm động đến rơi nước mắt. Biến tình cảm thành hành động, chúng tôi gom số cơm sau bữa ăn còn, đem về cho đồng bào. Ðược vài lần, chính quyền địa phương phát hiện, phản ánh với đơn vị, chúng tôi bị kiểm thảo. Có khuyết điểm thật nhưng chúng tôi không hề ân hận”.

Một kỷ niệm thật ấm áp tình người mà ông Tạng cũng không thể nào quên: “Vào khoảng tháng 3, trời còn rét, tôi bị sưng phổi. Ðể đảm bảo quân số, quân y đưa tôi gửi nhà chị Tùng ở thôn Ðời Sơn. Chị Tùng có hai con, con trai lớn tên Tùng, cháu gái tên Tình. Chồng chị Tùng qua đời vì nạn đói năm 1945. Nằm được một tuần lễ, ngày nào trước khi ra đồng chị cũng đến hỏi thăm tôi. Một chuyện đầy cảm động nữa là, nhà chị chỉ còn một đấu thóc, chị đem giã lấy gạo trắng nấu cháo cho tôi, còn lại tấm mẳn, cám và trấu đem giọt thật mịn, trộn với lá khoai hấp lên để mẹ con chị ăn.

Con gà mái đẻ được 3 trứng, hết thóc nó không đẻ nữa, 3 trứng gà ấy cũng lần lượt nấu cháo cho tôi. Ban đầu tôi nghĩ thầm, hay là chị Tùng yêu tôi. Nhưng không phải, mà đó là tình dân hết lòng thương yêu bộ đội, nhằm bồi dưỡng cho tôi mau hết bệnh trở về đơn vị, cùng anh em xây dựng lực lượng hùng mạnh giải phóng miền Nam. Nghĩa cử đó làm tôi nhớ mãi”.

Hơi ấm ổ rơm

Trong ngôi nhà xinh xắn, khuôn viên trồng nhiều cây xanh, rau cải, bầu bí, chim, hoa, cá cảnh của vợ chồng Kỹ sư Phạm Hữu Liêm và Lê Thị Liễu, toạ lạc tại ấp Tắc Thủ, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, câu chuyện tập kết được ông bà kể lại với bao dạt dào cảm xúc.

“Không nhắc thì thôi, nhắc là nhớ miền Bắc dữ lắm”, bà Liễu thổ lộ.

Bà Lê Thị Liễu quê tỉnh Quảng Ngãi, năm 1954, bà 10 tuổi, tập kết ra Bắc theo diện học sinh miền Nam. Tại miền Bắc, bà Liễu học cấp 1 đến cấp 3 ở Hải Phòng, học đại học ở Học viện Nông Lâm Hà Nội (sau Học viện tách ra thành các trường đại học: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ sản).

Ông Phạm Hữu Liêm (sinh năm 1941, quê ở xã Tân Hưng, huyện Cái Nước), cũng là học sinh miền Nam, tập kết ra Bắc năm 1954, học cùng lớp đại học ở Học viện Nông Lâm Hà Nội với bà Liễu.

Vợ chồng Kỹ sư Phạm Hữu Liêm (bìa trái, hàng đứng) và Lê Thị Liễu (thứ hai từ trái sang, hàng ngồi) chụp ảnh lưu niệm cùng bà Nương (bìa trái, hàng ngồi) sinh hoạt chi bộ cùng thời đó và những người con cháu trong gia đình cụ Nước, trong một lần ra thăm miền Bắc. (Ảnh bà Lê Thị Liễu cung cấp)

Vợ chồng Kỹ sư Phạm Hữu Liêm (bìa trái, hàng đứng) và Lê Thị Liễu (thứ hai từ trái sang, hàng ngồi) chụp ảnh lưu niệm cùng bà Nương (bìa trái, hàng ngồi) sinh hoạt chi bộ cùng thời đó và những người con cháu trong gia đình cụ Nước, trong một lần ra thăm miền Bắc. (Ảnh bà Lê Thị Liễu cung cấp)

Năm 1970, hai người xây dựng gia đình với nhau và sinh được 2 người con ở miền Bắc. Năm 1973, ông Liêm xung phong về Nam công tác. Bà Liễu và các con mãi năm 1976 mới về.

Hơn 20 năm sống trên miền Bắc, bà có rất nhiều kỷ niệm, nhất là sự cưu mang của đồng bào.  

“Hồi mới ra Bắc, chúng tôi được các cô bảo mẫu chăm sóc, mỗi cô chăm 40-50 bạn. Lúc đó lạnh quá đâu tắm được, bạn nào cũng chí, rận, rệp rất nhiều. Mỗi tuần các cô nấu nước tắm cho hai lần. Tối đến, mấy cô đi dọc theo giường ngủ thấy rệp là bắt. Rồi mấy cô phải nấu nước trụng áo quần cho rận, rệp chết. Lo tới cỡ lớp 3, mình lớn, biết tự lập được thì mới thôi”, bà Liễu nhớ lại.

Khi ấy, đối tượng học sinh miền Nam nhiều nhất trong độ tuổi 6-7 đến 12-13. Còn nhỏ nhưng phải xa cha mẹ, lại ở môi trường thời tiết khác biệt, nhất là cái lạnh, vì vậy được các cô chăm lo chu đáo, không chỉ giúp các bạn đảm bảo về sức khoẻ mà còn cảm nhận tình thương, hơi ấm gia đình, nguôi ngoai nỗi nhớ nhà. Ðó mãi là những tình cảm đẹp trong lòng bà Liễu và các bạn.

Những năm học đại học, bà cũng có nhiều kỷ niệm gắn bó với người dân: “Khi đó tôi làm lớp phó sinh hoạt, lo đời sống cho lớp. Bấy giờ máy bay B52 bắn phá miền Bắc dữ dội, nhiều lần chúng tôi phải đi sơ tán ở nhà dân (trên địa bàn Ðông Anh, Hà Nội). Tới giờ ăn, tôi đến bếp tập thể cùng chị cấp dưỡng lo phân chia cơm canh ra từng tổ. Phân phát xong, khi mình ra bàn ăn thì thường bị hết phần. Vậy là đành để bụng đói đi về. Gia đình cho ở nhờ thấy về sớm hỏi thăm, biết chuyện, họ cho mình ăn cơm. Nhiều lần như thế. Ở riết họ thương, coi mình như con cái. Có lúc lạnh, chăn mền đâu đủ ấm, nhà có con dâu, chồng đi bộ đội, họ cho mình vô phòng ngủ chung với chị ấy luôn”.

Có một chuyện mà ông bà Kỹ sư Phạm Hữu Liêm - Lê Thị Liễu luôn hàm ơn, nhắc nhớ hoài với bản thân và con cái. Ðó là khi ông bà đã kết hôn, có được người con đầu, bà làm ở trại chăn nuôi của Hợp tác xã Ðạm Thuỷ, huyện Ðông Triều, tỉnh Quảng Ninh, được bố trí một căn nhà nền đất trong trại. Bấy giờ con nhỏ, đi làm không ai trông, cũng không có nhà trẻ. Làm chung trong trại có ông cụ, mọi người gọi là ông cụ Nước, nhà ở ngoài xóm, cách đó khoảng cây số. Thấy tình cảnh bà như vậy, cụ biểu để cụ mang cháu về cho vợ chăm giúp. Vậy là ngày ngày bà gửi cháu cho ông bà cụ Nước.

Ông bà cụ Nước, những người đã cưu mang, chăm sóc các con nhỏ cho vợ chồng Kỹ sư Phạm Hữu Liêm - Lê Thị Liễu, thời ông bà công tác ngoài Bắc. (Ảnh bà Lê Thị Liễu cung cấp)

Ông bà cụ Nước, những người đã cưu mang, chăm sóc các con nhỏ cho vợ chồng Kỹ sư Phạm Hữu Liêm - Lê Thị Liễu, thời ông bà công tác ngoài Bắc. (Ảnh bà Lê Thị Liễu cung cấp)

“Sau này tôi xuống công tác ở nông trường (xã Ðông Mai, huyện Yên Hưng) cách đó 30 cây số, đã sinh thêm cháu thứ hai, chồng thì về Nam, ông bà cụ Nước cũng bắt mang các cháu về để ông bà chăm, không cho gửi nhà trẻ; vì miền Bắc lúc đó rất lạnh, sợ các cháu bị bệnh. Ông bà làm ổ rơm, rồi ủ các cháu trong đó giữ ấm khi mùa đông. Nhờ vậy mà mình yên tâm công tác. Ông bà giữ các cháu tính ra cũng khoảng 4 năm. Ơn nghĩa này vợ chồng tôi luôn ghi nhớ”, bà Liễu xúc động.

Biết ơn những gia đình đã cưu mang, sau này ông bà nhiều lần về thăm, đặc biệt là với gia đình ông cụ Nước. “Lần đầu về thăm còn cụ bà, cụ ông mất. Lần sau về thì chỉ gặp con cháu trong nhà, cụ bà cũng qua đời. Ðợt gần đây nhất, chúng tôi dẫn cả hai con về thăm”, bà Liễu cho biết.

“Lúc đó miền Bắc nghèo lắm, thêm lực lượng tập kết ra, kinh tế phải chia năm xẻ bảy, vậy mà người dân vẫn nhường cơm sẻ áo, đùm bọc, cưu mang. Nói chung về cái tình miền Bắc đối với miền Nam, bây giờ càng lớn tuổi càng nghĩ, thấy thật đậm đà, sâu sắc”, bà Liễu chiêm nghiệm.

 70 năm, đất nước thống nhất vẹn toàn. Thành quả này khắc sâu thêm ý nghĩa của tình đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái - đạo lý ngàn đời của dân tộc, đặc biệt là tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Ðảng, của Bác Hồ. Tất cả tạo thành sức mạnh Việt Nam để vượt qua bão dông và tiếp tục vươn mình tiến về phía trước./.

 

Trang Thăm

 

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.

Thương về đồng đội

Những ngày tháng 10, mưa giăng đầy trời, lòng người cũng thường hoài niệm về quá khứ. Đội Văn nghệ Thị đội Cà Mau năm xưa, những cựu chiến binh tuổi quá lục tuần lại quây quần bên nhau cùng hát, múa, tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh.