Thứ năm, 18-6-26 09:13:33
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Giữ lửa nghề rèn

Báo Cà Mau (CMO) Dọc theo mé kênh xáng Minh Hà, mỗi khi mặt trời vừa thức dậy, tiếng mài, tiếng đập chan chát của thợ rèn Hai Ngọc đều đặn vang lên, làm khuấy động nhịp sống bình dị nơi miền quê. Trong căn chòi lá cũ kỹ, đã trải qua 6 lần “thay áo mới", lò rèn Hai Ngọc vẫn tồn tại nơi vùng đất phèn dù trải qua bao năm tháng.

Ngược dòng thời gian, ông Hai Ngọc tâm tình, vùng đất Minh Hà B (xã Khánh Bình Đông, huyện Trần Văn Thời) này là quê hương thứ 2 của ông. Nơi chôn nhau cắt rốn của ông ở tận miền Trung, tỉnh Nam Định xa xôi. 11 tuổi, hai anh em ông theo chân mẹ vào Nam sinh sống theo phong trào khai phá vùng kinh tế mới. Chân ướt chân ráo, những ngày tháng lập nghiệp nơi vùng đất lạ, lắm gian nan. Có đất, tới vài héc-ta nhưng cấy lúa mùa, năm có gạo ăn, năm không. 20 tuổi, ông biết thế nào là cơ cực, là gian lao của mẹ và mong muốn sẻ chia gánh nặng oằn trên đôi vai của bà, chàng thanh niên Hai Ngọc quyết tâm lặn lội lên vùng đất Hà Tiên học nghề rèn.

Thật ra, nghề rèn là nghề truyền thống của gia đình ông Hai Ngọc và cả quê hương xứ sở. Từ đầu làng đã thấy những lò rèn lớn nhỏ mọc san sát, hình ảnh ông nội dù đã 60 tuổi, tay run, mắt kém vẫn cần mẫn bên những thanh sắt để tạo ra cây dao, cây phảng in đậm trong ký ức thời thơ ấu của ông Hai Ngọc. Và sau này, cha ông lại nối nghề và cũng chính là người hun đúc nên ước mong trở thành người thợ rèn trong ông. Chiến tranh loạn lạc, theo tiếng gọi của Tổ quốc, cha ông Hai Ngọc khoác chiếc áo bộ đội lên đường chiến đấu vì quê hương và hy sinh khi chưa kịp truyền nghề lại cho các con.

Cũng nhiều người thắc mắc, không hiểu sao làm thợ rèn cực nhọc quá mà ông Hai Ngọc lại chọn nghề này sinh nhai. Người ta nhìn vào thấy lạ đời, chớ riêng ông Hai Ngọc hiểu rõ cái gì cũng có nguyên do của nó. Người chọn nghề cũng như nghề chọn người vậy. Thứ nhất, nghề rèn là nghề ông cha để lại. Thứ hai là thời xưa, khi nền nông nghiệp còn lạc hậu, trồng lúa, làm cỏ hay bất cứ cái gì cũng từ sức người là chính và song hành là những nông cụ thô sơ được làm ra từ đôi tay khéo léo của những người thợ rèn như phảng, lưỡi gặt, lưỡi hái, dao, búa, mác… Nghề rèn được xem là một trong những nghề thịnh hành, ăn nên làm ra. Vì vậy, ông Hai Ngọc quyết định nối nghiệp ông cha. Tuy nghề có lúc thăng lúc trầm, nhưng với ông Hai Ngọc, trở thành người thợ rèn là quyết định trong đời mà ông chưa bao giờ hối hận.

Cũng nhờ cái nghề cực nhọc này mà ông trụ được vùng đất nơi đây, lập gia đình, lo được cho vợ con Vừa nung, vừa đập những thanh sắt để kịp giao sản phẩm cho khách quen, ông Hai Ngọc nói về nghề với giọng đầy tự hào: “Hồi xưa đâu có nuôi tôm như bây giờ, chỉ chuyên trồng lúa thôi. Mà đất đai vùng này khó canh tác lắm, toàn năn, sậy, phèn. Cũng nhờ nghề rèn mà kiếm được miếng cơm manh áo, vợ con không vất vả và đặc biệt là tôi chưa bao giờ phải đi làm mướn cho ai”.

Lò rèn Hai Ngọc vẫn thổi bừng ngọn lửa dù trải qua bao thăng trầm.

Mấy chục năm về trước, lúc chuẩn bị vào mùa vụ, khoảng tháng 5, tháng 6, lò rèn của ông Hai Ngọc vui như ngày tết. Bà con gần xa hối hả đến đặt hàng ông Hai Ngọc, đa phần là đặt thợ làm phảng để phát cỏ. “Hồi đó, hầu như nhà nào cũng cần 2-3 cây phảng nên nhu cầu của bà con cần nông cụ này nhiều lắm”, ông Hai Ngọc chia sẻ.

Khách hàng kẻ ra người vô nườm nượp, chen chúc cả chòi, co ro ngồi đợi từng sản phẩm. Thương bà con cũng là quý khách, tới bữa, vợ ông Hai Ngọc (bà Đỗ Thị Phương) nấu cơm mời dùng. Tuy chỉ vài con cá, đĩa rau vườn nhưng chủ, khách đều thấy ấm lòng. 

Không chạy theo đồng tiền, sản phẩm dù lớn hay nhỏ làm ra phải đạt chất lượng, hợp túi tiền của bà con là tiêu chí làm nghề của ông Hai Ngọc mấy chục năm qua. 

Nhưng thời hoàng kim của nghề rèn bây giờ chỉ còn là câu chuyện của quá khứ. Nhiều lò rèn biến mất khi nền nông nghiệp đã bước sang hiện đại hoá. Cũng chịu sóng gió khi thời cuộc đổi thay, vậy mà lò rèn Hai Ngọc vẫn bám trụ, vẫn cố gắng cho ra đời những sản phẩm phục vụ bà con.

Bên dòng kênh xáng Lâm Trường, ngay cạnh dốc cầu Kinh Dớn (ấp Kinh Dớn) cũng có lò rèn đã tồn tại qua 40 năm. Chủ nhân lò rèn này là ông Huỳnh Văn Ý, người dân trong vùng quen gọi là ông Năm Ý. 

Nối nghề từ cha, chưa bước qua tuổi đôi mươi, chàng thanh niên Năm Ý đã thành thạo nghề rèn. 40 năm đặt chân đến xứ Kinh Dớn này cũng là ngần ấy năm nghề rèn theo ông suốt hành trình mưu sinh. 

Ông Năm Ý nhìn xa xăm hồi nhớ: “Nghề này xưa kia làm ăn được lắm nghe cháu. Nghề thịnh vì làm ra những nông cụ cần thiết phục vụ trồng trọt, sinh hoạt”. Sản phẩm làm ra phải bén, phải bền, vì vậy mà lò rèn Năm Ý nổi danh khắp vùng. 

Ông Năm Ý bảo, nghề rèn giờ có nhiều đổi thay, nhiều công đoạn đã có máy móc hỗ trợ. Trước đây người thợ rèn phải giũa dao khá lâu hay dùng cây thục bơm ống bể để thổi hơi cho ra lửa mới trui được nông cụ, còn nhiều năm nay đã có máy mài và mô tưa ghim điện thổi hơi cho lò nung. Thị trường cũng có các miếng thép cắt sẵn nên rất tiện. Nhờ vậy nên ở cái tuổi thất tuần, ông Năm Ý vẫn còn gượng rèn nổi vài món đồ.

“Đa phần nhận mài lại, khi có khách quen đặt mới rèn dao, búa, còn không thì lâu lâu mới rèn vài cái để dành cho con cháu dùng”, ông Năm Ý tâm tình.

Tuỳ theo loại nông cụ, kích thước lớn nhỏ mà thời gian trui rèn sẽ khác nhau. Dẫu không còn thu nhập bạc triệu mỗi ngày như trước, nhưng chăm chỉ rèn, nung cũng được vài trăm ngàn đồng, đủ trang trải cuộc sống gia đình mà không cần phải oằn lưng chịu cảnh làm thuê.

Vui vì dù trải qua bao thăng trầm, ông Năm Ý, ông Hai Ngọc vẫn còn lưu giữ được nghề truyền thống của dòng họ, của quê hương và riêng ông Hai Ngọc đang truyền lại cho thế hệ sau. Tâm niệm của ông chủ những lò rèn còn đỏ lửa này, còn sức là còn làm hoài./.

Ngọc Minh

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.