Thứ năm, 18-6-26 02:14:14
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Lắng nghe, kịp thời giải quyết bức xúc của dân - Bài 1: Ðối thoại để hiểu dân

Báo Cà Mau (CMO) Ðối thoại, tiếp xúc với Nhân dân là hoạt động rất quan trọng, giúp các cấp uỷ Ðảng, chính quyền thấy rõ hơn, cảm nhận sâu sắc hơn Nhân dân đang quan tâm gì, bức xúc gì, hài lòng việc gì. Có khi cùng một vấn đề nhưng có nhiều quan điểm, cách nhìn khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Chỉ thông qua các cuộc tranh luận, trao đổi trực tiếp, người dân có thể trình bày ý kiến của mình một cách tỉ mỉ; chủ thể được tiếp thu và giải đáp kịp thời những vấn đề mà người dân đang quan tâm, từ đó mà các vấn đề được giải quyết tận gốc rễ. Nhờ đó, người dân được giải toả tâm lý về những vấn đề còn đang băn khoăn, khúc mắc.

Cũng thông qua buổi tiếp xúc, lắng nghe Nhân dân, từng cơ quan chức năng sẽ thấy rõ hạn chế, trách nhiệm của mình để khắc phục, giải quyết những vấn đề phát sinh. Ðây chính là tiền đề rất quan trọng nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức cũng như hành động trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.

Ðối thoại nhằm mục đích công khai, minh bạch hồ sơ vụ việc, tiếp nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến việc giải quyết, làm rõ nội dung, yêu cầu của người khiếu nại (KN), người bị KN, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về vụ việc giữa các bên và hướng giải quyết KN. Việc trao đổi, giải thích trực tiếp nhằm tạo sự thống nhất nhận thức quy định của pháp luật, đồng thuận giữa các bên trong phương án giải quyết vụ việc trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan, đảm bảo đúng chính sách, pháp luật, có tính khả thi và hướng đến kết thúc vụ việc tranh chấp giữa cơ quan hành chính và người dân trên thực tế.

Phó giám đốc Sở Tư pháp Cà Mau Phạm Quốc Sử và Chủ tịch UBND huyện Ngọc Hiển Trần Hoàng Lạc đối thoại với công dân Tạ Hoàng Thơm (ấp Khai Long, xã Ðất Mũi) ngày 12/5 vừa qua. Ảnh: H.PHƯỢNG

Tầm quan trọng của đối thoại

Thông qua hoạt động đối thoại, người giải quyết KN sẽ hiểu rõ hơn về nội dung vụ việc KN, yêu cầu của người KN, trên cơ sở đó có hướng giải quyết KN một cách khách quan, đúng đắn.

Tầm quan trọng của đối thoại đã được nhắc đến trong Nghị quyết 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 như sau: “Lãnh đạo các cấp chủ động, làm tốt công tác đối thoại trực tiếp với người KN, tố cáo, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân".

Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết KN, tố cáo cũng nêu rõ: "Người đứng đầu tổ chức Ðảng, Chủ tịch UBND các cấp, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tình hình KN, tố cáo và công tác tiếp công dân, giải quyết KN, tố cáo trong phạm vi địa bàn, lĩnh vực phụ trách. Thực hiện nghiêm chế độ tiếp công dân theo quy định của Luật Tiếp công dân, gắn việc tiếp công dân với xử lý, giải quyết KN, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Chú trọng tiếp công dân tại cơ sở, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của người dân. Chủ động đối thoại, vận động, thuyết phục công dân để giải quyết, tháo gỡ triệt để khiếu kiện, bức xúc của công dân".

Nhiều trường hợp người KN khi tổ chức đối thoại với cơ quan Nhà nước đã nhận thức rõ sự việc KN của mình không đúng pháp luật nên tự nguyện rút đơn KN. Hoặc đối với người có thẩm quyền giải quyết KN, sẽ phát hiện những quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức thuộc phạm vi quản lý hoặc các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cá nhân mình là trái pháp luật, từ đó có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp đối với người KN nói riêng và đối tượng chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật gây ra.

Mặt khác, khi người có thẩm quyền giải quyết KN tổ chức đối thoại với người KN sẽ tìm được tiếng nói chung, giúp việc giải quyết KN một cách hiệu quả, nhanh chóng, tránh tình trạng người KN khiếu nại tiếp. Qua tổ chức đối thoại, có thể người có thẩm quyền và người KN thoả thuận được phương án giải quyết vụ việc KN mà không cần thiết phải ra quyết định giải quyết KN. Có rất nhiều dẫn chứng trên thực tế cho việc này.

Cụ thể như tại tỉnh Bình Phước vài năm trước đây, Chủ tịch UBND tỉnh có buổi đối thoại với 9 hộ dân ở Khu phố 5, phường Long Phước để giải quyết KN của người dân trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng thuộc Dự án khu trung tâm hành chính và khu đô thị mới thị xã Phước Long. Tiếp đó là đối thoại với người dân thị xã Ðồng Xoài kể cả trong ngày nghỉ và buổi tối để có thể giải quyết những kiến nghị của dân sớm nhất, đồng thời giải quyết các điểm nóng về khiếu tố đất đai trên địa bàn thuộc trách nhiệm giải quyết của UBND tỉnh.

Có thể nói, việc đối thoại giữa người đứng đầu chính quyền với cộng đồng dân cư về vấn đề liên quan đến lợi ích của họ, đồng thời lắng nghe để giải quyết các KN, kiến nghị, phản ánh nói chung, nhiều khi giúp tìm ra phương hướng, giải pháp xử lý tốt hơn là đi đến một quyết định cụ thể.

Còn nhiều khó khăn, vướng mắc

Xác định tầm quan trọng đó của hoạt động đối thoại, Luật KN, tố cáo năm 1998 và Luật KN năm 2011 đều quy định về việc đối thoại là một thủ tục trong quá trình giải quyết KN.

Tuy nhiên, hai luật này quy định khác nhau về việc đối thoại. Nếu như Luật KN, tố cáo năm 1998 quy định người giải quyết KN phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người KN, người bị KN (Ðiều 37), thì Luật KN năm 2011 đã có sự thay đổi khi quy định về vấn đề này. Ðiều 30 của Luật KN năm 2011 quy định, đối với giải quyết KN lần đầu, nếu yêu cầu của người KN và kết quả xác minh nội dung KN còn khác nhau thì người giải quyết KN tổ chức đối thoại với người KN, người bị KN, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung KN, yêu cầu và hướng giải quyết KN. Như vậy, với quy định này, trong thủ tục giải quyết KN lần đầu, việc tổ chức đối thoại không mang tính chất bắt buộc đối với mọi trường hợp. Hoạt động này chỉ phải thực hiện trong trường hợp yêu cầu của người KN và kết quả xác minh nội dung KN còn khác nhau.

Ðồng thời, để đảm bảo cho việc đối thoại trong quá trình giải quyết KN được thực hiện một cách thống nhất giữa các địa phương, các ngành, các cấp, Luật KN cũng quy định cụ thể về hoạt động này. Theo đó, trước khi tổ chức đối thoại, người giải quyết KN có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với người KN, người bị KN, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên quan biết thời gian, địa điểm, nội dung việc đối thoại. Khi đối thoại, người giải quyết KN phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả xác minh nội dung KN; người tham gia đối thoại có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ liên quan đến KN và yêu cầu của mình. Việc đối thoại phải được lập thành biên bản; biên bản phải ghi rõ ý kiến của những người tham gia, kết quả đối thoại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tham gia; trường hợp người tham gia đối thoại không ký, điểm chỉ xác nhận thì phải ghi rõ lý do; biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc KN. Các quy định cụ thể này đã xác định rõ trách nhiệm của người giải quyết KN và quyền của các bên tham gia đối thoại. Qua đó, đảm bảo cho việc tổ chức đối thoại nói riêng, việc giải quyết KN nói chung được thực hiện với tinh thần khách quan, dân chủ; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong vụ việc KN.

Ðối với thủ tục giải quyết KN lần hai, Luật KN 2011 đã khắc phục được bất cập trong quy định của Luật KN, tố cáo 1998. Theo đó, quy định về đối thoại lần hai không còn mang tính chất tuỳ nghi mà là thủ tục bắt buộc. Ðiều 39 của Luật KN quy định: “Trong quá trình giải quyết KN lần hai, người giải quyết KN tiến hành đối thoại với người KN, người bị KN, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung KN, yêu cầu, hướng giải quyết của người KN”. Quy định này nhằm ràng buộc trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết KN trong việc trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người KN, từ đó ra quyết định giải quyết chính xác, kịp thời.

Tuy nhiên, thời gian qua, việc thực hiện quy định về tổ chức đối thoại lần hai theo Ðiều 39 của Luật KN đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc nhất định. Thực tế cho thấy, người giải quyết KN lần hai chủ yếu là Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Ở một số tỉnh, thành phố, số lượng vụ việc phải giải quyết KN lần hai khá nhiều, chẳng hạn như TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. UBND 2 thành phố này từng có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và Tổng Thanh tra Chính phủ kiến nghị cho phép được thực hiện cơ chế uỷ quyền đối thoại trong giải quyết KN. Tuy nhiên, để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động giải quyết KN, tố cáo, đề nghị trên của UBND TP Hồ Chí Minh và cả UBND TP Hà Nội sau đó đều không được chấp nhận, vì điều đó trái với quy định của Luật KN. Bản thân Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 quy định người giải quyết hoặc người có trách nhiệm thẩm tra xác minh thực hiện việc đối thoại, cũng đã bị cơ quan của Quốc hội lưu ý qua công tác giám sát và sau đó cũng đã phải sửa lại cho phù hợp với tinh thần của Luật KN.

Trên thực tế, việc đối thoại đã được tổ chức không chỉ một lần mà có thể nhiều lần đối với những vụ việc phức tạp, đông người, nhất là liên quan đến các vụ án thu hồi đất hoặc vấn đề liên quan đến an sinh xã hội, môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân trong một địa bàn, nhưng việc đối thoại ở đây mới chủ yếu dừng lại ở việc lắng nghe, trao đổi, ghi nhận ý kiến của những người KN chứ chưa hẳn đã là trực tiếp giải quyết vụ việc, không giống như những gì mà pháp luật hướng tới. Các cuộc đối thoại để giải quyết KN như luật quy định chỉ với thành phần nhất định và không được công khai, cho nên sự giám sát của người dân đối với việc thực hiện trách nhiệm này cũng sẽ bị hạn chế./.

 

Phạm Quốc Sử

BÀI 2: XIN LỖI CÔNG DÂN

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.