Thứ năm, 18-6-26 05:07:46
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Lụt về lại nhớ sông xưa

Báo Cà Mau (CMO) Không biết có dòng sông nào như sông Trẹm quê tôi, mỗi năm 2 mùa mưa, nắng, thì dòng sông cũng có 2 mùa, nước mặn và nước ngọt. Từ nhỏ tôi đã nhận ra một điều, là dù vào mùa nào, dòng sông Trẹm vẫn như người mẹ tảo tần, luôn mang trong lòng mình những nguồn lợi thuỷ sản phong phú để ban tặng cho cuộc sống những cư dân hai bờ …

Người dân quê tôi quen với tên gọi sông Trẹm, nhưng tên đầy đủ của dòng sông là sông Trèm Trẹm (cũng có tài liệu gọi là sông Tràm Trẹm). Nhưng tôi không đi sâu vào tên gọi của dòng sông, chỉ muốn giới thiệu với các bạn về nguồn lợi thuỷ sản phong phú và những cách đánh bắt tôm cá từ bao đời nay qua 2 mùa nắng, mưa mỗi năm trên dòng sông Trẹm. Có thể là một vài chi tiết tôi kể giờ đây đã không còn, đã lạ lẫm với lớp người tuổi trẻ ngày nay, bởi thời gian đã làm thay đổi nhiều thứ.

Sông Trẹm hôm nay.                                                                              Ảnh: CHÍ DIỆN

Sông Trẹm năm có 2 mùa, dòng nước mang vị mặn, ngọt khác nhau. Mùa nước mặn thường bắt đầu từ khoảng tháng 11 âm lịch và kết thúc vào tháng 4 năm sau, khi mùa mưa đến và dòng sông cũng chuyển sang mùa nước ngọt. Dù là vào mùa nước mặn hay nước ngọt, sông Trẹm khi xưa luôn dồi dào tôm cá. Giờ tôi vẫn còn nhớ rõ những cách và dụng cụ bắt tôm, cá trên sông của người dân. Có thể kể ra đây khá đầy đủ, như làm nò, đặt đó, đặt vó, đi trễ và những cách đánh bắt thông thường như nhiều nơi khác, như đặt lọp, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu, đi câu… Tuỳ theo mùa nước ngọt hay nước mặn trên sông mà bà con thay đổi cách bắt cá.

Vào mùa mưa, khi nước đã tràn đồng, thì dòng sông Trẹm cũng bắt đầu từ nước mặn chuyển dần sang nước ngọt. Khi vào mùa nước ngọt, bông súng mọc dài theo 2 bên bờ sông. Ngày còn nhỏ, tôi đã biết bơi xuồng đi giăng lưới theo làn bông súng. Bông súng mọc ven sông như 2 dải lụa trải dài một màu xanh pha lốm đốm những cánh hoa nhỏ dịu dàng nhấp nhô theo sóng nước. Cá rô, cá lóc, cá trê ít nhiều cũng có cho những bữa ăn gia đình. Những gia đình ở quê xa thị trấn thì làm gì có chuyện mua cá! Nhà nào nhiều người giỏi bắt cá được nhiều, ăn không hết còn mang ra chợ bán như một nguồn thu nhập thường xuyên của gia đình.

Tôi thích nhất là mùa nước lụt, thường vào tháng 8, tháng 9 âm lịch. Mưa nhiều làm con nước sông từ rừng U Minh đổ về pha màu đỏ của phù sa. Nước lên tràn đồng, ngập luôn cả vườn nhà, ngập con đường đất ven sông. Quê tôi gọi mùa nước lên như vậy là “nước lụt”, chứ không phải nước lũ như ở miền Trung, miền Bắc. Nước cứ lên từ từ mỗi ngày một ít, chầm chậm, hiền hoà, như sự bù đắp của thiên nhiên cho con người bằng những hạt phù sa màu mỡ cho vườn tược, đồng ruộng, và bổ sung thêm nguồn lợi đã vơi đi sau một năm sinh sống. Đợt lụt hàng năm có khi tuần lễ, 10 ngày mới rút.

Những ngày nước lụt, cá rô tôm tích trên rừng phía thượng nguồn theo con nước đỏ màu phù sa, men theo viền bông súng 2 bên sông xuôi về hạ nguồn. Bên bờ sông, bà con bắt cá rô tôm tích bằng cách đặt vó hoặc giăng lưới mùng. Những bầy cá tôm tích thoát được bàn tay của con người thì men theo các ngõ lên đồng, trở thành những con cá rô đồng béo ngon, hấp dẫn vào mùa gặt. Những con rô con mùa nước lụt lại trở thành nguồn nguyên liệu để làm mắm cá rô đồng vào mùa nước rút. Mùa lụt, nhà nhà tha hồ ăn cá rô tôm tích với đủ món chế biến dân dã mà ngon nhớ đời, như cá rô tôm tích chiên giòn hoặc lăn bột chiên, hấp cuốn bánh tráng, kho mắm đồng hay đơn giản như kho quẹt mỡ hành đều ngon…

Qua mùa cá tôm tích, lúc này các loại cá nước ngọt trên sông đã có nhiều. Buổi sáng, tôi thường hay đi nhấp cá lóc dài theo con lộ nhỏ ven sông, hoặc giăng lưới, cắm câu, đặt lờ, đặt lọp… Nếu chịu khó một chút thì lúc nào nhà cũng không thiếu cá đồng.

Khi những cơn mưa cuối mùa kết thúc thì gió bấc bắt đầu thổi về. Theo chế độ thuỷ triều và theo mực nước trên sông Trẹm xuống dần, nước mặn từ biển dần xâm nhập vào sông. Thời điểm ấy là con sông dần chuyển sang mùa nước mặn. Dòng sông Trẹm lại có nhiều loài thuỷ sản của nước mặn, như cá chẽm, cá đối, cá rô biển, cá nâu… và dĩ nhiên là có nhiều tôm tép với cua biển theo nguồn nước mặn vào sông sinh sôi. Khi dòng sông vào mùa nước mặn thì dụng cụ bắt tôm cá của bà con cũng thay đổi theo. Nhiều giàn lưới cá chẽm hay lưới cá đối được bủa ngay trên dòng sông, chứ không phải ven bờ như lưới cá đồng. Nhưng có lẽ dòng sông trở nên nhộn nhịp nhất là vào ban đêm. Những chiếc đèn đó, rồi đèn vó đặt tép giăng giăng dọc theo bờ sông, xen những chiếc đèn di chuyển của xuồng đi trễ tạo cho người ta cảm nhận là dòng sông Trẹm vẫn không ngủ và vắt sức mình cho cuộc mưu sinh của người dân mà miền sông nước cưu mang… Nhà có vài miệng đó, vài chiếc vó, và một đêm thức trắng trong mùa nước mặn là có thể kiếm được chục ký tép bạc. Dĩ nhiên là đem bán ở chợ. Mùa lúa đã gặt xong, dòng sông Trẹm mùa nước mặn cũng là nơi mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho đời sống người nông dân.

Đến khi những trận mưa lớn đầu mùa làm nổi nước đồng, dòng sông lại chuyển mình sang mùa nước ngọt. Bước chuyển mình ấy, tôi nghĩ  không nhẹ nhàng chút nào, mà cảm tưởng như dòng sông oằn mình gánh chịu một sự trở mình để chuyển sang trạng thái mới trong sự tuần hoàn của thiên nhiên… Đó là khi những cơn mưa đầu mùa trút xuống, nước mưa hoà vào nước mặn trên sông làm cho nước “đổ phèn” vàng chạch. Bị thay đổi nguồn nước, tôm cá trên sông bị “sốc”, dật dờ dạt vào ven bờ, có khi bơi xuồng mà bắt. Dân quê tôi gọi khoảng thời gian chừng tuần lễ chuyển mùa như thế, là “mùa cá dại” trên sông.

Tôi chưa kể về một dụng cụ bắt cá tôm mà cả 2 mùa nước mặn hay nước ngọt trên sông đều có. Đó là những cái nò. Nò làm bằng nhiều tấm đăng sậy, bện bằng dây choại khô. Ven bờ ở một khúc sông nào đó, những người có kinh nghiệm nhìn là biết luồng cá di chuyển, và đặt những tấm đăng theo bộ khung là những cây tre dài, hoặc cây tràm tuỳ theo vị trí và độ sâu ven sông, với nhiều lớp “thiên la địa võng” nhưng bài bản, để cuối cùng cá lần theo đăng khi di chuyển, chui vào rọ mà bắt. Làm nò thì có thể nói là mùa nào, trên sông có loại gì thì bắt được loại đó. Những con to như cá chẽm, cá lóc, cá rô, đến cá đối, tôm càng, cua biển… Những người dân ở ven sông, nhưng không phải ai cũng rành làm nò, bởi nếu xây nò không đúng kỹ thuật hay không hợp vị trí, thì cũng chẳng bắt được bao nhiêu tôm cá. Những người nổi tiếng về xây nò ở Thới Bình mà tôi biết và còn nhớ đến giờ, những ông “vua nò” chính hiệu, như ông Ba Trộm nhà ở gần đình Thới Bình (nay ông đã mất), và ông Tư Hiếm, hiện vẫn còn sống, nhà ở vàm Rạch Ông. Ngày xưa, nò của người nào, ở vị trí khúc sông nào, thì như mặc định là vị trí ấy thuộc về người đó làm nò, không ai xâm lấn.

Bây giờ trên dòng sông Trẹm quê tôi, nhiều phương tiện, dụng cụ bắt cá tôm như ngày xưa không còn nữa. Những thế hệ sau tôi không còn biết những cái nò, những chiếc đó đặt tép, những chiếc xuồng trễ ban đêm, những ánh đèn dầu hoả lấp lánh trong đêm tối… trên con sông Trẹm quê nhà. Kể cả những tấm hình trên mạng cũng không tìm thấy. Có lẽ ngày nay, nguồn cá tôm trên sông đã cạn kiệt, biến đổi khí hậu làm cho mùa lụt hàng năm nước không còn lên cao, tràn đồng…  Và người ta dần tìm ra những cách bắt tôm cá đơn giản và hiệu quả hơn để thay thế cách của ngày xưa đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp.

Dòng sông Trẹm bây giờ lặng lẽ và trơ trọi, như đã lặng lẽ làm điểm tựa sinh sống cho những cư dân từ đời này sang đời khác. Và mùa lụt năm nay, tôi đọc tin khí tượng thuỷ văn cho biết lượng mưa trên nguồn không nhiều, không biết nước lụt có dâng tràn đồng hay không, để dòng sông chở màu nước đỏ phù sa và những đàn cá rô tôm tích từ rừng về bồi đắp, bổ sung cho cuộc sống của người dân miền sông nước quê tôi…

Nguyễn Sông Trẹm

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.