Thứ năm, 18-6-26 16:40:59
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

20 năm vững vàng “Làng goá phụ”

Báo Cà Mau (CMO) Giọt nước mắt những người goá phụ lại rơi khi gợi nhớ về chuyện 20 năm trước. Đó là ngày bão Linda (bão số 5 năm 1997) quét qua Cà Mau, biến xóm ven biển Kinh Xáng Mới, xã Khánh Hội, huyện U Minh thành “Làng goá phụ”. Chỉ trong một ngày, cuộc sống của những người còn ở lại trở nên đảo lộn. 20 năm sau, họ vẫn vững vàng, thay chồng làm trụ cột gia đình…

Những người có người thân đi biển trong bão số 5 năm 1997 lặn lội đến các cửa biển chờ mong. (Ảnh tư liệu Báo Cà Mau)

Kinh Xáng Mới, Biện Nhị, Chệt Tửng, Lung Lá thuộc xã Khánh Hội, huyện U Minh là những địa danh gánh chịu hậu quả tang thương nhất do bão Linda để lại với hơn 500 ngư dân thiệt mạng. Trong vòng quay cuộc sống, nhiều g phụ tiếp tục thờ chồng và cũng không ít người bước thêm bước nữa. Nhưng dù thế nào, nỗi đau cũ vẫn còn in sâu trong tâm khảm của người dân nơi đây.

20 năm nuôi con…

Ngồi trên ghe nhìn mưa lất phất rơi ngoài kinh Xáng Mới, xã Khánh Hội, chị Hồng Kim Yến trầm ngâm: “Cũng ngày mùng 3 tháng 10 âm lịch của 20 năm về trước, tôi vừa tròn 19 tuổi và mang thai đứa con đầu lòng. 11 giờ trưa, mưa rả rích, mây đen kịt. Đến khoảng 4–5 giờ chiều, gió mạnh dần làm tốc mái nhiều ngôi nhà xung quanh. Cứ ngỡ là bão đã đi qua nhưng không ngờ rạng sáng ngày mùng 4, cả xóm biển nhận được tin dữ - cơn bão số 5 đã dìm tất cả các ghe biển ngoài khơi”, chị Yến thẫn thờ.

“Nửa tỉnh nửa mê, tôi hòa theo dòng người chạy như bay về cửa biển Khánh Hội ngóng tin chồng. Mỗi người ngồi một góc, gương mặt thẫn thờ dõi mắt ra biển, chẳng ai khóc nổi thành tiếng. Đến ngày mùng Sáu, những tia hy vọng dần tắt. Tôi nghĩ rằng, con trai mình không còn cơ hội gặp mặt cha”, chị Yến tâm sự.

Nào ngờ, tối mùng Sáu, chồng chị Yến trở về như một kỳ tích. Anh được ghe biển Kiên Giang cứu sống trong khi 6 người đi cùng đã không còn ai sống sót. Giây phút đoàn tụ, chị Yến chỉ biết đứng từ xa nhìn chồng và nước mắt cứ trào tuôn. Chị nói, cả đời chị không thể nào phai nhạt hình ảnh ấy.

Nhưng rất hiếm người may mắn như chị Yến, đa số các chị còn lại đều ngóng tin chồng trong tuyệt vọng. Ngày nhận tin chồng mất tích trong bão dữ, bà Trần Thị Giang, 51 tuổi, Ấp 4, xã Khánh Hội như điên, như dại. Bà gởi 4 con nhỏ về quê ngoại, rồi thơ thẫn như xác không hồn, ra ngoài cửa biển Khánh Hội chờ đợi một phép màu. Bà Giang kể: “Tới ngày mùng Bảy thì mỗi nhà đều làm ly hương, đội khăn tang thờ chồng, thờ con. Ban ngày xóm biển vắng tanh, chỉ nghe mùi nhang khói hòa với gió biển. Cứ thế kéo dài ròng rã từ ngày này sang ngày khác”.

Nước mắt lăn dài trên gò má, bà Giang tiếp: “Bão tan, nhà cửa cũng tan tành. Mỗi lần thấy tôi khóc, mấy đứa nhỏ ngồi im sau lưng nhìn mẹ. Đứa lớn nhất đến lau nước mắt cho tôi rồi động viên: “Mẹ ơi, đừng khóc! Con sẽ thay ba lo cho mẹ”. Câu nói ngây thơ đã thúc giục tôi phải giựt dậy tinh thần để thay chồng nuôi nấng các con nên người”.

Quyết tâm không bước thêm bước nữa, người phụ nữ trẻ không màng nắng mưa, làm thuê đủ thứ nghề để trở thành trụ cột gia đình. Đó là quyết định của “hoa khôi xóm biển”, bà Trần Thị Lăng, giờ đã 58 tuổi, ngụ Ấp 4, xã Khánh Hội. Vợ chồng bà Lăng tuy còn trẻ tuổi nhưng sở hữu gia tài đáng mơ ước. Hai chiếc ghe biển lớn của gia đình đã giải quyết việc làm cho nhiều ngư dân trong xóm. Và tháng 10/1997 là lần cuối cùng bà nhìn thấy nó mang theo chồng và con trai đi biệt tăm.

Bà Trần Thị Lăng rưng rưng khi nhớ về những ngày tang thương 20 năm trước.

Khác với những người phụ nữ khác rối rít chạy ra cửa biển đợi tin chồng, bà Lăng đã ngất xỉu ngay lúc nhận được tin bão. Sau khi bình tĩnh lại, bà đi tìm chồng khắp các cửa biển và cả những hòn đảo xa xôi với hy vọng chồng vẫn còn sống hoặc có thể tìm thấy xác. Hễ nghe ở đâu vớt được xác, bà Lăng đều bao đò dọc để đến đó nhận dạng, rồi thất vọng quay về. Hành trình tìm chồng suốt 5, 6 năm trời đã mỏi mệt khi bà nhận ra 3 đứa con nhỏ đã mất cha còn phải chờ mẹ.

Thế là bà Lăng về xóm biển nhang khói cho chồng và lao đầu vào công việc để quên đi thời gian. Bà bộc bạch: “Tôi chưa bao giờ nghĩ chồng tôi đã chết. Tôi vẫn luôn mong một ngày nào đó ông ấy sẽ trở về với mẹ con tôi”. Và đó là động lực để bà Lăng sống tốt hơn mỗi ngày, dẫu đến nay bà đã dựng vợ gã chồng cho các con và sum vầy bên đàn cháu nhưng ông chồng vẫn biệt vô âm tính. Nhưng bà Lăng vẫn tin có 1 ngày…

Dẫu sao bà Lăng cũng còn 1 “số vốn kha khá” khi danh sách người mất tích dán tại Đồn Biên phòng Khánh Hội có tên con trai bà, nhưng mấy hôm sau nó lại về khi mà đồ tẩn liệm, xóm làng đã mua đủ, sau phải mang đi đốt bỏ… Rồi vài năm sau, con lớn của bà, anh Trần Văn Húng, người “chết hụt giữa biển khơi”, lại đi làm tài công kiếm sống. Đứa lớn dìu dắt đứa nhỏ, đến nay 3 anh con trai lớn của bà đều làm tài công, riêng con trai Út, mấy anh dành dụm mua một chiếc ghe để anh câu mực mé, thu nhập ổn định, dù không giàu có nhưng cũng đủ ăn, có tích luỹ.

Đã có chúng tôi!

Một tháng sau bão, xóm biển thưa hẳn người. Cả con kinh Xáng Mới cũng chẳng thấy bóng dáng của mấy người đàn ông. Rồi nhiều bà mẹ ôm con bỏ xứ ra đi vì muốn chôn vùi quá khứ đau thương, phần vì mưu sinh khi đã mất trụ cột gia đình.

Ông Huỳnh Chuông (Ba Chuông), Bí thư Chi bộ ấp 4, xã Khánh Hội (nguyên Trưởng Ấp 7, xã Khánh Lâm năm 1997, nay là các ấp: 3, 4, 5, 6, 7 xã Khánh Hội), ngậm ngùi, chỉ tính riêng Ấp 7 lúc đó đã có hơn 100 ngư dân bỏ mạng trong bão Linda nhưng chỉ vớt xác được 1 người. Nguyên dân dẫn đến bi kịch là do sự chủ quan của ngư dân, khi đi biển không trang bị dụng cụ cứu sinh; các thiết bị vô tuyến lúc đó thì không ai có.

Ông Ba Chuông kể, thời khắc đó không ai có thể quên được cảnh làng xóm đổ nát. Trong hoạn nạn, tinh thần “lá lành đùm lá rách” đã được phát huy cao độ. Chính quyền địa phương và cả cộng đồng xã hội hướng về vùng tang thương này, đến từng hộ gia đình trao tiền, quà hỗ trợ sau thiên tai; vận động các bà, các chị kìm nén đau thương, ổn định cuộc sống.

Bà Trần Thị Lăng hồi nhớ, hồi ấy bà được hỗ trợ gạo, thức ăn, cả gia đình ăn cả năm mà không hết. Cũng nhờ hỗ trợ tiền nhiều, bà mới có đủ kinh phí đi tìm chồng mấy năm ròng rã, vì tài sản là 2 chiếc ghe đã mất tích cùng chồng và những bạn ghe.

Sau bi kịch này, cả nước và các kiều bào nước ngoài chung tay, hỗ trợ để chia sẻ nỗi đau quá lớn và khắc phục hậu quả thiên tai. Bà Trần Thị Giang, chị dâu anh Nguyễn Văn Dụ, trải lòng: “Cứ cách vài ngày là cán bộ ấp, xã lại đến động viên gia đình tôi. Họ giúp tôi sửa nhà rồi khuyến khích, hỗ trợ tụi nhỏ tiếp tục đến trường. Vài năm sau cũng vậy, đến ngày đám giỗ chồng là họ lại đến thắp nén hương rồi hỏi thăm cuộc sống của mấy mẹ con. Chính vì thế giúp tôi có thêm động lực gắn bó nơi đây”.

“Ác mộng đã qua. Giờ đây con cái của tôi đều đã thành gia lập thất và tụi nó lại tiếp tục nối nghiệp của cha. Không những không sợ hãi khi ra biển khơi mà tụi nó còn vững tin cha sẽ phù hộ cho ghe biển được nhiều cá, mực...”, bà Giang lau nước mắt.

Chị Hồng Kim Yến có lẽ là người phụ nữ may mắn nhất xóm Kinh Xáng Mới này khi anh Nguyễn Văn Dụ, chồng chị là người duy nhất về trên 2 chiếc ghe của anh em, dòng họ. Gia đình lớn của anh Dụ có 2 chiếc ghe cào mé, 14 người đi, trong đó có phân nửa là máu mủ ruột rà.

Vợ chồng anh Nguyễn Văn Dụ chuẩn bị cho chuyến ra khơi

Anh Dụ trải lòng: “Sau bão tính bỏ nghề, nhưng ở đây làm có 1 vụ lúa, hơn 10 công đất, không dư dả gì. Những tháng nông nhàn thì chan chát, không có thu nhập nên 2 năm sau, tôi đánh liều đi làm tài công cho ghe người ta. Rồi dành dụm, mua 1 chiếc ghe nhỏ, giờ sắm chiếc lớn hơn nhưng cũng chỉ câu mực mé”. Anh cũng là người đàn ông bản lĩnh nhất xứ này khi dong ghe đi câu mực một mình trên biển từ trưa hôm nay đến sáng hôm sau mới về.

Làng cá Khánh Hội 20 năm sau bão số 5. Ảnh: Lê Chí

“Làng goá phụ” giờ đã đổi thay. Con kinh Xáng Mới đã tấp nập ghe biển và con đường lộ bê tông đã nối liền thôn xóm, tiếng nói cười của trẻ con vang vọng. Chị Yến chia sẻ: “Con trai tôi đã tròn 20 tuổi, hiện nó đã nhập ngũ nhưng vẫn hay gọi về hứa rằng sau khi ra quân sẽ về đi biển với cha”. Và chiếc ghe của anh Dụ sẽ có bạn đồng hành, bớt cô đơn giữa biển khơi, đêm tối.

Nghề biển đã ăn sâu vào tâm thức người dân nơi đây, từ thế hệ này tiếp nối thế hệ khác vẫn bám biển mưu sinh. Những chàng trai mười tám, đôi mươi ngày ngày vẫn hào hứng ra biển với niềm hy vọng mới…/.

Ông Châu Minh Đảm, Phó chủ tịch UBND xã Khánh Hội, huyện U Minh cho biết, 20 năm sau cơn bão Linda, đời sống của ngư dân Khánh Hội đã nâng lên rõ nét. Ngoài đi biển, các chị em phụ nữ còn kiếm sống bằng những nghề truyền thống nhờ tham gia các lớp dạy nghề ở địa phương. Thu nhập dù chưa đạt tiêu chí nông thôn mới, chỉ mới 31 triệu đồng/người, nhưng xã từ con số không sau bão, nay đã đạt 10/19 tiêu chí nông thôn mới. Đa phần trẻ em được đến trường và năm học này, có đến 95% học sinh của trường THCS Khánh Hội được chuyển lên học THPT ở Khánh Lâm, cách đó khoảng 7 km. Đây là con số rất có ý nghĩa khi trước đây đa số người dân chỉ trú trọng mưu sinh trước mắt, nay họ đã biết đầu tư lâu dài: đầu tư từ giáo dục thế hệ trẻ.

 Phùng Ngọc Trầm 

 

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.