Thứ năm, 18-6-26 22:54:00
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nhà báo thích… nuôi tôm

Báo Cà Mau Một lần rất tình cờ, tôi liên hệ công tác tại cơ quan Cựu chiến binh huyện Năm Căn thì được gặp ông Năm Nhân (Trần Chí Nhân). Ít ai biết, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh Khóm 5, thị trấn Năm Căn này là một nhà báo cách mạng lão thành. Khi nghỉ viết báo, ông bắt đầu “sự nghiệp” nuôi tôm.

Một lần rất tình cờ, tôi liên hệ công tác tại cơ quan Cựu chiến binh huyện Năm Căn thì được gặp ông Năm Nhân (Trần Chí Nhân). Ít ai biết, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh Khóm 5, thị trấn Năm Căn này là một nhà báo cách mạng lão thành. Khi nghỉ viết báo, ông bắt đầu “sự nghiệp” nuôi tôm.

Phải nói rằng, ở lĩnh vực nào ông cũng gặt hái được những thành công khiến người khác phải khâm phục. Cuộc đời của ông khiến chúng tôi rất tò mò, bên trong dáng người gầy khô, khắc khổ, giọng nói từ tốn, đều đều là biết bao tâm huyết với đời sống, là một nội lực vượt khó đến phi thường.

Nhà báo chiến trường

Quê gốc của ông Năm Nhân ở Tân Ðức, Ðầm Dơi. Gia đình “cách mạng nòi” nên 16 tuổi, ông được gởi học trường của Huyện uỷ Ngọc Hiển. Ðến năm 1962, ông Năm Nhân được tuyển công nhân quốc phòng hệ 7 năm. Lần này, trong bụng, ông đã tính rằng: “Chắc là phải ra Bắc học rồi”. Nhưng không, tổ chức đưa ông xuống miệt Ngọc Hiển rồi làm công tác vô tuyến điện cho Khu Tây Nam Bộ, mà thực chất là học dịch mật mã. Sau đó, tổ chức tiếp tục tuyển những cán bộ cốt cán của vô tuyến điện để gánh vác nhiệm vụ tối quan trọng là theo dõi và dịch mật mã để nắm thông tin địch, Năm Nhân là cái tên được lựa chọn.

Ông Năm Nhân bên những kỷ vật gắn với một thời làm báo chiến trường, thời gian gắn bó với Báo Minh Hải.  Ảnh: PHẠM NGUYÊN

Năm 1968, giữa lúc chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt, Năm Nhân được kết nạp Ðảng. Giây phút này, ông cùng anh em cán bộ thông tin vô tuyến điện xác định: “Không tiếc cả tính mạng để làm tròn nhiệm vụ. Phải đánh thắng giặc để đền nợ nước, trả thù nhà”.

Từ năm 1969, Năm Nhân thuộc bộ phận Quân báo Quân khu 9 chuyên làm công tác đưa tin cho Ðài Giải phóng. Ngay sau đó là giai đoạn bình định, Mỹ - Nguỵ quyết tâm “Nhổ cỏ U Minh”, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ của lĩnh vực thông tin báo chí bị thương, hy sinh. Năm Nhân trở thành phóng viên chiến trường vì nhu cầu thực tế.

Ngay sau giải phóng, Năm Nhân lại tham gia tác nghiệp trên chiến trường biên giới Tây Nam. Lần này, ông có một kỷ niệm không thể nào quên: “Lực lượng phóng viên chiến trường được Quân khu 9 bố trí trên một chiếc xe tăng, vậy mà hoả lực bên kia bắn chiếc xe này lật nhào, ai cũng tưởng đã chết”. Ông Năm Nhân làm một vòng biên giới, ra tận Phú Quốc, Thổ Chu và khi nhận được lệnh của Quân khu thì quay về. Nhiệm vụ mới của Năm Nhân là về Báo Minh Hải, đó là năm 1976.

Ông nhớ như in những ngày đầu ở vị trí Phó Bí thư Chi bộ Báo Minh Hải: “Lúc đó, anh Lê Hữu Nghiêm (tức Út Rô) làm Phó Tổng Biên tập, phóng viên có Phan Anh Tuấn, Nguyễn Minh Nối, Nguyễn Thanh Sử, Nguyễn Hà Phương… đâu cũng hơn chục người. Sau đó, cơ quan bắt đầu tuyển bổ sung lực lượng cho báo chí, đó là Nguyễn Bé, Phạm Phi Thường...”. Ông Năm kể: “Thời đó, báo có khi cả tháng mới ra được một số, in ở nhà in Báo Nhân Dân tuốt trên Sài Gòn, mỗi số khoảng 3.000-5.000 tờ”.

Cùng gây dựng Báo Minh Hải

Sau những năm tháng chiến tranh, lực lượng báo chí của Minh Hải có dư kinh nghiệm, nhiệt tâm nhưng vẫn “thưa người” và cần bổ sung rất nhiều thứ để chuẩn bị cho một nền báo chí mới. Ông Năm Nhân bộc bạch: “Tác nghiệp khó khăn lắm, mỗi lần đi ít nhất cũng phải 1 tuần lễ mới hoàn chỉnh bài viết. Ðời sống cán bộ, phóng viên, biên tập viên vô cùng khó khăn. Làm báo vẫn chủ yếu dựa vào thủ công. Ngày đó, nếu ai quen biết được xe đò, tàu xuồng thì có giang đi công tác thôi”. Rồi sau đó, không khí báo chí của Minh Hải cũng phản ánh phần nào tâm trạng và không khí của người dân sau những xáo trộn lớn trong chính sách điều hành xã hội.

Ông Năm nhớ lại: “Ði lấy tin, cán bộ dưới cơ sở kéo đi nhậu miết. Mình không dựa vào cán bộ cơ sở thì cũng kẹt, mà không tiếp cận được người dân thì làm sao có bài viết chân thực. Lòng vòng rồi bài cũng có, nhưng phản ánh cũng chỉ phần nào những khó khăn, trăn trở của xã hội thôi”.

Rồi Năm Nhân đi học ở Sài Gòn trong thời gian “ngăn sông, cấm chợ”. Ông Năm cười: “Ði đem theo 15 kg gạo nhưng nhất quyết phải có chữ ký của ông Hoàng Minh Nhất (Uỷ viên Thư ký UBND tỉnh khi đó), nếu không thì bị tịch thu liền”. Năm Nhân đem gạo lên Sài Gòn để mỗi sáng trước khi đi học thì nấu cháo loãng “húp dằn bụng”. Ngay tại Sài Gòn, lương thực, thực phẩm cũng vô cùng khan hiếm, ông Năm cho biết: “Thường vẫn phải ăn cơm độn củ mì Tây Ninh, cao lương mới đủ no”.

Rất may mắn là trong bối cảnh đó, những anh em được đào tạo bài bản như Nguyễn Bé, Phạm Phi Thường, Lê Hiền... bắt đầu trưởng thành và khẳng định được vị trí trong làng báo. Báo Minh Hải dần dần được bổ sung lực lượng vừa đông về số, vừa mạnh về chất. Ông Năm Nhân cũng tốt nghiệp đại học ngành Văn tổng hợp. Lúc này, Trần Chí Nhân đã là cây bút điều tra gạo cội. Tiếp theo đó là những vụ án lớn, những bài báo, quyển sách, những nhà báo gây chấn động dư luận của một Minh Hải còn khó khăn, của đất nước đang trong quá trình chuyển mình đổi mới.

Năm 1994, sau thời gian điều trị bệnh, ông xin nghỉ ở cơ quan Báo Minh Hải. Ông trăn trở: “Làm phóng viên chiến trường, rồi suốt thời kỳ “bao cấp”, lúc nào bản thân chú cũng muốn phụng sự nghề nghiệp, phụng sự Ðảng, Nhân dân. Nghỉ làm báo, rời cơ quan, bản thân chưa biết sẽ phải làm gì để sống. Nhưng có một điều ấm lòng đó là báo chí Minh Hải đã tiếp tục bổ sung lứa mới cũng đầy hứa hẹn như Nguyễn Chiến, Ngô Hải…”. Một quyết định không hề dễ dàng, nhưng Năm Nhân với thân hình gầy khô, ôm ba lô bộ đội “đi một hơi” xuống mấy chục công đất mua ở Năm Căn bằng tiền vay mượn.

"Trang đời" mới

Ba đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, dịch tôm chết hoành hành, sức khoẻ cũng yếu hơn người khác, Năm Nhân bắt đầu cuộc sống mới một cách chật vật. Ông nhớ lại: “Chú phải chạy đôn, chạy đáo mới có tiền cho thằng con đi học, rồi lo ăn uống sinh hoạt ở nhà. Tôm chết hoài, nhìn xác tôm đỏ quạch mà muốn đứt từng khúc ruột”.

Thấy ông Năm có học vấn, địa phương vận động tham gia công tác cơ sở, ông gật đầu: “Khổ cũng khổ rồi, ráng chút nữa đâu có sao”. Rồi với đức tính cẩn thận, không bó tay trước mọi hoàn cảnh của người lính thông tin, của một phóng viên chiến trường và nhà báo điều tra, ông Năm bắt đầu học nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học.

6,5 ha tôm của ông bắt đầu mang lại thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Ông tự tin bằng một giọng nói chậm rãi: “Như năm rồi, hạn hán quá trời, được cái là tôm không chết. Chế phẩm này chú cũng đã giới thiệu và giúp nhiều người ở Ðầm Dơi, Ngọc Hiển…, kết quả khá lắm”.

Kinh nghiệm nuôi tôm gần 20 năm giúp ông Năm ngộ ra một điều… rất ngộ: “Làm báo cũng như nuôi tôm, hễ có lòng kiên trì, có học hỏi, có sáng kiến, có cái tâm thì sẽ thành công thôi”. Ông bộc bạch: “Nuôi tôm bằng chế phẩm sinh học ít tốn tiền, dễ làm, hiệu quả bền vững, điều này chú muốn chia sẻ rộng khắp để bà con tìm ra cho mình một cách làm ăn thật sự hiệu quả”.

Nhiều năm liền là nông dân sản xuất giỏi các cấp, ông Năm vẫn miệt mài bên con tôm, bên những thùng chế phẩm sinh học coi đơn giản mà hiệu quả “thần kỳ” giữa đất ven biển Năm Căn. Hỏi ông lâu lâu có còn “ngứa nghề” viết báo không, ông nở một nụ cười hiền: “Nghề nó ăn vào máu rồi, nhớ nghề nhưng giờ mình già rồi, thôi đành chuyên tâm vào nuôi tôm”.

Nâng niu những bức ảnh chiến trường, tấm bằng đại học và Thẻ Nhà báo đã nhuốm màu thời gian, ông Năm Nhân cảm khái: “Gần 70 tuổi đời, 48 năm tuổi Ðảng, đời chú coi như có được những thứ quan trọng nhất rồi còn gì nữa mấy đứa…”

Ký của Phạm Nguyên

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.