Con tắc kè trên cây cột tràm bên chái nhà có lẽ là “kẻ” chứng kiến đầy đủ nhất những trận đòn tuổi thơ của tôi.
Hồi đầu, mỗi lần má nắm tai tôi kéo ra hàng lu bên hè, con tắc kè lại chạy tót lên hàng đòn tay để trốn. Từ từ quen, nó nằm yên đó ngó nghiêng, thưởng thức màn “bi kịch” bên dưới, thỉnh thoảng lại lè lưỡi như trêu ngươi. Giờ nó già rồi, chắc cũng đã ngắm nghía chán chê nên không còn mấy quan tâm, thỉnh thoảng ngáp dài có vẻ chán lắm.
Ngoài con tắc kè, còn có bà chế hơn tôi một tuổi. Mỗi lần tôi bị đòn, bả lại nhìn với ánh mắt hả hê: “Đó, thấy chưa? Tao đã nói rồi mà mày đâu có nghe!”. Bởi vậy, ngày đó ở nhà tôi ghét bả nhất, cái tính lúc nào cũng canh chọt cho mình bị rầy, bị đánh.
Ngày ấy, tôi với đám bạn trong xóm đứa nào cũng giỏi lặn lội và có chung sở thích tắm sông. Cứ tan học là cả đám kéo nhau ra con rạch chảy ngang trường làng để tắm, rồi bày đủ trò, từ rượt đuổi tới móc sình chọi nhau. Dòng sông quê gắn liền với bao ký ức êm đềm mà giờ đây khi tóc đã chớm màu thời gian, ngồi lại với nhau, chúng tôi vẫn thấy như chuyện vừa mới hôm qua.
Vì ham chơi nên ngày nào tôi cũng học về muộn, quần áo, đầu tóc lấm lem sình đất. Mỗi lần như vậy, tôi lại bị má lôi ra hàng lu bên hè, vừa kỳ cọ vừa rầy, thỉnh thoảng lại đét một cú vào mông đau điếng. Vậy mà tôi vẫn trơ trơ. Dòng nước từ cái gàu cà bắp má dội tới tấp lên đầu, lên mặt, lên người... sao mà mát đến lạ lùng. Thỉnh thoảng, tôi còn lén thè lưỡi hứng những giọt nước đang chảy ròng trên mặt, nó cứ ngọt ngây.
Hàng lu bên hè - tài sản đáng giá và là nét văn hoá đặc trưng trong đời sống sinh hoạt của nông dân Nam Bộ.
Cũng như bao gia đình nông thôn khác, nhà tôi có hàng lu gần chục cái bên hè, đủ mọi kích cỡ. Những cái lu bự chảng, hồi chiến tranh ba tôi đem ra bờ đìa làm hầm tránh bom, nay đem vô để trữ đầy nước mưa uống vào mùa hè. Lu trung trung thì chứa nước nấu ăn hằng ngày. Lu nhỏ hơn thường có sẵn cái gàu cà bắp để trên nắp là nơi rửa chân tay, tắm táp cho tụi con nít.
Với người nhà nông, lu mái là tài sản giá trị. Sau mỗi mùa lúa, nhà lại mua thêm vài cái để trữ nước. Thậm chí, khi anh chị tôi lập gia đình, thế nào cũng được ba má cho một hai cái làm “của hồi môn”.
Trong miền nhớ của tôi, nhà quê xưa tuy nghèo vật chất nhưng chưa bao giờ thiếu nước, dù là mùa hạn dai. Mưa xuống là nhà nhà lại hứng nước để dành. Ba tôi cắt bẹ chuối làm máng xối, dẫn dòng nước mát lành từ mái lá chảy vào lu. Mấy trận mưa lớn, cả nhà lại tất bật huy động từ khạp, thùng đến xoong, thau … để hứng nước mưa xài dần.
Nước mưa quý lắm, chỉ dùng để uống, nấu cơm và pha trà đãi khách. Mọi sinh hoạt khác đều dùng nước sông, nước giếng. Mùa hạn, cánh đàn ông trong nhà có thêm nhiệm vụ gánh nước từ ao đìa về, đổ cho đầy lu để xài hằng ngày. Nhà nào ruộng lớn, đìa xa có khi phải gánh nước quãng đường vài trăm thước.
Ngay từ hồi nước nôi không thiếu, người lớn đã dạy đám trẻ chúng tôi biết quý nước và sử dụng nước sao cho tiết kiệm. Mỗi lần uống phải múc vừa đủ, thiếu mới lấy thêm. Tuổi thơ chúng tôi may mắn khi không phải chứng kiến thời tiết cực đoan như bây giờ. Ngày đó, muốn tắm thì nhảy ùm xuống sông, khát nước giữa đường cứ ghé đại nhà ai đó, vớ lấy cái gáo dừa bên lu là có ngay ngụm nước ngon lành.
Người Cà Mau luôn dạy con cháu biết quý trọng nguồn nước, vì họ biết nước không phải là vô tận. (Ảnh minh hoạ: AI/LÊ TUẤN)
Những cái lu năm xưa vẫn còn nguyên bên hè nhà tôi, vẫn đầy nước nhưng được bơm bằng mô tơ từ giếng khoan. Vài năm trước, lúa có giá nên phần lớn ao đìa bị san lấp, làm ruộng. Nguồn nước tự nhiên cũng bị thu hẹp ít nhiều.
Nhà nông bây giờ ít ai dám uống nước mưa vì sợ nhiễm độc. Các nhà máy, xí nghiệp mọc lên ngày càng nhiều, ngày ngày xả khói xám, khói đen kịn kịn lên trời. Làm ruộng, trồng rẫy bây giờ cũng phải phun thuốc rào rào, người ta nói chất hoá học ngưng tụ trong không khí rồi theo nước mưa đi xuống. Bởi vậy, mười nhà nông thôn thì năm, bảy nhà đã mua máy lọc nước, vì ít ai còn dám uống “trực tiếp” nước mưa.
Nước bây giờ là đề tài thời sự của toàn thế giới: an ninh nguồn nước, hạn mặn. Có nơi, nước tự nhiên bị nhiễm phèn, nước ngầm thì khoan tìm không thấy, người dân phải chờ mòn mỏi, “đổi” từng can nước với giá cả đắt đỏ. Nhớ hồi ba năm trước hạn dai, bộ đội phải chở nước từ các vùng trên về hỗ trợ cho bà con.
Bất giác, tôi thèm trở về những ngày thơ dại. Nhớ những buổi tối ăn củ co luộc xong ra múc gáo nước mưa uống, nghe vị ngọt mát chảy từ miệng xuống tận lòng. Nhớ cả những lần bị má vừa tắm vừa la rầy bên hàng lu đầy nắng. Tất cả ký ức ấy như những dòng nước mát lành nuôi dưỡng tâm hồn tôi giữa một thế giới đang trở nên xô bồ. Để rồi mỗi ngày, tôi vẫn thủ thỉ với các con mình rằng: “Thế gian này không có gì là vô tận, kể cả tài nguyên thiên nhiên”./.
Hoa Tràm

Truyền hình



Xem thêm bình luận