Thứ năm, 18-6-26 17:49:39
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Quản lý đất công - chuyện như đùa ở Tân Phú

Báo Cà Mau (CMO) Hỏi cán bộ xã Tân Phú về khu vực đất công ở Tràm Thẻ giờ ít người biết rành vì lâu quá họ không nghe nhắc đến. Xem ra việc không biết đến cũng có căn cơ của nó. “Biết rồi thì sao? Ai dám mở môi?” (một cán bộ xin giấu tên bộc bạch).

Bài 2: Đất đâu "có cánh"

Sau khi làm việc với ông Võ Thanh Lâm, Bí thư Đảng uỷ xã Tân Phú, tôi ngỏ ý được tận mắt chứng kiến khu đất ấy. Ông Lâm gọi vài công chức khác đi cùng tôi nhưng họ đều không chắc mình biết.

Cả công chức địa chính (là người địa phương) cũng không rõ. Biện pháp cuối cùng, ông Lâm cử một công chức địa chính mới toanh (vừa luân chuyển về Tân Phú 3 tháng) dẫn tôi đến Trụ sở Sinh hoạt văn hoá ấp Tràm Thẻ. Ở đó, Bí thư Chi bộ ấp sẽ dắt tôi đi vào khu đất công này.

20 năm, 7 hộ canh tác 650 công đất

Sẽ không ai tin nổi, với số đất rộng 65 ha (650 công) mà chỉ vỏn vẹn 7 hộ thuê canh tác. Không phải vùng đất này khó khăn đến độ ai cũng “bỏ chạy” khi nghe nhắc tên. Mà phàm là nông dân “chính hiệu” thì ai lại chê đất ruộng!

Bao nỗi hoài nghi chỉ bằng thừa. “Lúc đầu mình ưu tiên cho cán bộ, sau này khi họ đầu tư kê bờ nên có đổi cho hộ khác cũng khó. Đó là sai lầm lớn”, ông Tư Trí (Nguyễn Thiện Trí), nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Phú, phân trần.

Con lộ đất đỏ ven kinh xáng Bạch Ngưu chạy qua vùng Tràm Thẻ vẫn như xưa dù đã 20 năm tái lập xã Tân Phú.

Nỗi hoài nghi đầu tiên vừa được giải thích. Nay lại thêm những trăn trở khác: là “cán bộ” mà “mê” ruộng như nông dân? Đó là phúc chứ sao có thể là hoạ được? Lao động là vinh quang mà.

Không chờ lâu, tôi đặt câu hỏi về những vị thuê đất này, ông Võ Thanh Lâm cho biết: “Chuyện này để hỏi bên uỷ ban”. Nhưng khi nhấc máy điện hỏi thì ông vẫn chưa nắm rõ khu vực đất công của xã hiện những ai đang thuê và mỗi người thuê bao nhiêu. (Vì ông Lâm vừa về Tân Phú nhận nhiệm vụ. Bắt tay vào vị trí mới, ông giải quyết bao nhiêu công chuyện tồn đọng do các vị đồng cấp “tiền nhiệm” để lại - PV).

Tôi lại tìm gặp ông Ngô Hoà Dựa, nguyên Chủ tịch UBND xã, nguyên Bí thư Đảng uỷ xã Tân Phú, người từng đề đạt ý kiến thu hồi lại toàn bộ khu vực đất công cho thuê của xã (từ những năm đầu 2000 đến khi hết 2 nhiệm kỳ tại vị) để có phương án xử lý, canh tác khác. Nhưng cả thời gian giữ chức vụ Chủ tịch rồi bí thư Đảng uỷ xã, ông Dựa vẫn chưa thể thực hiện được nguyện vọng này.

Nghe tôi hỏi, ông Dựa kể như thuộc lòng: “Phần đất đó chỉ có vài người thuê thôi. Đó là ông Lê Thành Phố (Sáu Phố), nguyên Bí thư Đảng uỷ đầu tiên của xã Tân Phú, 100 công (sau này ông Phố nhượng lại một nửa cho ông Biện Văn Nhu); ông Biện Văn Nhu (Ba Nhu) đã thuê trước đó 70 công (tổng 120 công); ông Ngô Hoàng Diệu, nguyên Tham mưu trưởng Tỉnh đội, 150 công (sau này chia cho anh vợ là Trần Huệ Lai, ở xã Trí Phải, 25 công); ông Lý Văn Thái (Ba Thái), nguyên Trưởng Công an huyện Thới Bình, 75 công; ông Trần Thanh Nhàn, doanh nghiệp ở xã Tân Phú, 80 công; ông Quách Văn Gắn (Ba Gắn), từ Đầm Dơi lên cũng nhận 150 công…”.

Trong các vị này, ông Biện Văn Nhu từng là tâm điểm của giới truyền thông khi nhắc đến “gương điển hình” vươn lên từ vùng đất khó mà bao lượt đồng nghiệp tôi đã chấp bút.

Đó là chưa kể khi ngày đầu vận động, Nhân dân phản kháng quyết liệt, rốt cuộc phía UBND xã phải đề xuất đưa lực lượng vũ trang vào. “Đó là lúc Ban Quản lý dự án nhờ Tiểu đoàn U Minh 2 hỗ trợ. Bù lại, họ được nhận 150 công đất để canh tác. Bà con thấy bộ đội canh tác nên không còn phàn nàn. Sau này, khi “phá sản” đề án thì phần đất này lại bị “biển thủ”. "Thật đáng buồn”, một cán bộ từng công tác tại UBND xã Tân Phú (xin giấu tên) than thở.

Nghe đến đây, tôi chợt hiểu ra nguyên nhân một số cán bộ đương nhiệm ở xã Tân Phú ít ai bận tâm đến phần đất này. Bởi có biết, nhìn vào “danh sách” chủ thuê đất là những "chú Sáu", những "anh Ba", "anh Tám"... thì hở môi làm gì?

“Đã có nhiều lần UBND xã muốn thu hồi đất nhưng quyết tâm không cao nên thất bại. Thậm chí có lúc Chủ tịch UBND xã kế nhiệm đã đệ đơn thưa các hộ này đến Toà án Nhân dân huyện để đòi đất công”, ông Lâm cho biết.

Trong lần đòi đất phải ra toà ấy, phía UBND xã "thua" trắng tay (thay vì kiện ra toà việc các hộ này không thực hiện đúng hợp đồng như còn nợ tiền thuê đất. Còn việc thu hồi đất không cho thuê nữa là thẩm quyền của UBND xã).

Từ sau năm 2000, khi con tôm ngự trị vùng Tràm Thẻ thì đất ở đây bắt đầu đội giá. Chỉ tính sơ sơ, muốn thuê 1 công đất cũng phải bỏ ra 1 triệu đồng/năm. “Đó là giá rẻ nhất”, ông Đào Văn Liễu, 74 tuổi, khẳng định bằng kinh nghiệm mấy mươi năm gắn bó ở vùng đất này.

Chờ một quyết định...

Nghĩ đến 650 công đất của UBND xã Tân Phú mà xót xa mỗi năm chỉ thu 65 triệu đồng tiền thuê, trong khi cũng đất này có thể thu tiền thuê gấp 10-15 lần nếu đảm bảo đúng giá. Càng xót xa thêm khi ông Võ Thanh Lâm “bật mí” về nguồn tiền bảo trợ xã hội của xã Tân Phú, mỗi năm không quá 55 triệu đồng.

55 triệu đồng để lo cho trên 12.000 nhân khẩu trong 360 ngày về thảm hoạ, thiên tai… “Gói ghém lắm cũng vài trăm ngàn đồng một hộ với mỗi lượt hỗ trợ”, ông Lâm tính nhẩm.

Nếu xã cương quyết thu hồi 650 công đất đang cho một nhóm người thuê (được xứ Tân Phú gọi bằng cụm từ “các đại gia”) và cho thuê bằng giá với Nhân dân trong vùng thì chỉ riêng khoản thu này mỗi năm xã Tân Phú thực hiện công tác bảo trợ xã hội gấp 10 lần so với ngân sách chi.

Ai từng kinh qua những con số và phép tính cộng, trừ, nhân, chia sẽ phải hụt hẫng bởi sự khập khiễng giữa 100.000 đồng và 1 triệu đồng nhân lên 650 lần và nhân thêm cho 20 năm. Số tiền này có thể nâng Tân Phú về đích nông thôn mới mà không cần nhiều vào sự trợ lực “xã khó khăn”, vùng “đông đồng bào dân tộc”.

Tuy mới nghe, mới chứng kiến sự khập khiễng này, nhưng so lại những gì các vị đồng nghiệp tôi ca tụng về tấm gương "anh Ba Nhu" thu nhập trên vùng đất cầm trâu mỗi năm vài trăm triệu đồng thì không còn gì ngỡ ngàng nữa. Trong khi cách khu đất ông Ba Nhu thuê của xã với giá không thể rẻ hơn là những xóm nghèo mang tên Tapasa.

Song song với những “dự tính trục lợi” riêng của một nhóm cá nhân là đông đảo những hộ nông dân đầy lòng vị tha. Tôi từng hỏi, khu đất 650 công do đâu mà có? Đó là khu đất khi vận động Nhân dân về khai hoang, làm dự án ngọt hoá Nhà nước đã cắt phần hậu đất của họ. Những hộ dân bị cắt phần hậu đất giờ không còn màng đến chuyện đòi lại. Họ cũng chẳng đặt vấn đề được Nhà nước thu hồi trả lại phần thành quả lao động của họ, có người mất cả 50 công như ông Liễu, cũng có người ít hơn nhưng cũng không dưới 15 công như ông Ba Cao (Trần Phi Cao).

Đồng cảm với những người tạm gọi là “mất đất”, các vị nguyên là chủ tịch, nguyên bí thư Đảng uỷ xã Tân Phú như ông Nguyễn Thành Hánh, Nguyễn Thiện Trí cũng mong mỏi sớm thu hồi phần đất này để lo chuyện an cư cho dân nghèo.

“Chỉ tính sơ bộ, 650 công đất khi thu về sẽ giải quyết được cho 130 hộ nghèo (mỗi hộ 5 công). Việc này cũng sẽ giải quyết ổn thoả hộ nghèo trong xã để cùng nhau vươn lên xã nông thôn mới”, ông Nguyễn Thiện Trí nhẩm tính.

Trao đổi vấn đề này với ông Võ Thanh Lâm, ông cũng nghĩ như vậy: “Đảng uỷ từng nghĩ thế, nhưng đã phản ánh về huyện nhiều lần vẫn chưa có kết quả. Xã hiện có 366 hộ nghèo, kể cả hộ đồng bào dân tộc và hộ gia đình chính sách”.

Nghĩ về phương án đầy tính nhân văn này, ông Nguyễn Văn Quẻm, Bí thư Chi bộ ấp Tràm Thẻ, bật điện thoại hỏi Trưởng ấp rồi ông quay lại thông tin: “Tràm Thẻ có 248 hộ dân, trong đó có 30 hộ nghèo (17 hộ thuộc diện không đất sản xuất). Nếu tính vậy coi bộ hợp lý”.

Sẽ không khó khăn nếu có quyết tâm cao. Bởi minh chứng cho điều này là việc UBND xã Tân Phú đã từng thu hồi 13,2 ha (132 công) phần đất của ông Quách Văn Gắn (ông Gắn thuê 15 ha) để đổi đất khác xây dựng trụ sở trạm y tế xã và trụ sở UBND xã hiện hữu. “Đổi khu vực đất để xây dựng trạm y tế xã theo tỷ lệ 1/10, nghĩa là 10 công vuông tôm đổi 1 công để thuận tiện xây dựng. Đã tiến hành đổi 52 công (52.000 m2 lấy 5.200 m2). Xây dựng trụ sở UBND xã 10.000 m2, đã tiến hành đổi theo tỷ lệ 1/8 (1 công đất xây trụ sở UBND đổi 8 công vuông) 80.000 m2”, ông Lâm cho biết.

Đồng thời, theo dự tính của xã Tân Phú, nếu thu hồi được phần đất này, ngoài cấp đất sản xuất cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc khó khăn và hộ gia đình chính sách khó khăn, xã sẽ xin chủ trương đổi tiếp phần đất đảm bảo xây dựng trụ sở trung tâm sinh hoạt văn hoá xã theo chuẩn nông thôn mới.

Nhưng tính hợp lý của nó vẫn còn đang phải chờ UBND huyện xử lý và hướng dẫn việc thu hồi đất công của xã. Đặt trường hợp ngược lại, Tân Phú sẽ không còn quỹ đất công này vĩnh viễn?

Phóng sự điều tra của Ngọc Hùng

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.