Thứ tư, 3-6-26 06:37:40
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Điểm nghẽn kinh tế biển Phú Tân: Bài 1: Khi biển không còn hào phóng

Báo Cà Mau Hơn chục năm làm nghề lú huế, ông Nguyễn Văn Út, ấp Cái Nước, xã Phú Tân, huyện Phú Tân khao khát vươn khơi, tìm ngư trường mới.

Huyện Phú Tân có thế mạnh về nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản. Thế nhưng, lĩnh vực khai thác thuỷ hải sản lại “ì ạch” trên con đường phát triển. Nguyên nhân do ngư dân chưa đủ điều kiện đóng tàu lớn để vươn khơi, bám biển, đa phần sử dụng phương tiện đánh bắt nhỏ, khai thác gần bờ, muốn khắc phục những hạn chế này là ngoài khả năng của địa phương. Vì thế, để vực dậy kinh tế biển của huyện, cần phải có sự cộng hưởng từ nhiều phía.

Huyện Phú Tân có bờ biển dài khoảng 37 km, từ cửa Mỹ Bình đến cửa Bảy Háp. Vùng biển này giàu tiềm năng về thuỷ hải sản, nhưng thời gian qua không được bảo tồn, khai thác hợp lý, hiện đứng trước nguy cơ cạn kiệt.

Phương tiện khai thác thuỷ sản có công suất nhỏ là "thủ phạm" huỷ hoại môi trường ven biển.

Huyện Phú Tân hiện có khoảng 700 ghe tàu khai thác biển, trong đó, có khoảng 229 chiếc từ dưới 20 CV. Theo quy định, huyện không cho phát sinh mới loại phương tiện có công suất nhỏ này, nhưng thực tế nó vẫn tăng lên hằng ngày. Chính loại phương tiện này đang ngày đêm phá huỷ môi trường sống của cá, tôm, làm kiệt quệ nguồn lợi thuỷ hải sản ven bờ. Từ đó làm cho cuộc sống của người dân, vốn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển, ngày càng cơ cực hơn.

Tận diệt

Theo quy định, ngư trường khai thác thuỷ hải sản của ngư dân là cách bờ biển từ 6 hải lý (khoảng trên 11 km) trở ra, còn từ hải lý thứ 6 trở vào bờ là vùng cấm khai thác. Mục đích của việc cấm khai thác ven bờ nhằm tạo môi trường sinh sản cho tôm, cá, bảo vệ tôm, cá non để tái sinh nguồn lợi thuỷ sản. Thế nhưng, hiện ngư trường ven biển đang bị người dân khai thác vô tội vạ.

Theo thống kê của ngành chức năng, huyện Phú Tân có gần 500 ghe khai thác biển có công suất từ dưới 20 CV đến dưới 50 CV. Thực tế, con số này còn cao hơn gấp nhiều lần. Lý do, khi đóng mới ghe có công suất nhỏ, chủ phương tiện không đăng ký với cơ quan chức năng. Chính những phương tiện khai thác loại nhỏ này, cùng với các kiểu khai thác mang tính huỷ diệt như xung điện, là “thủ phạm” huỷ hoại môi trường sống ven biển, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên.

Theo quan sát, hiện nay, từ cửa Mỹ Bình đến tận cửa Gò Công, các loại ghe có công suất nhỏ xuất hiện dày đặc, khai thác bằng nhiều hình thức như đẩy te, cào, lú huế… miễn sao bắt được các loại cá, tôm từ nhỏ đến lớn để phục vụ mưu sinh. Thực tế đó đã minh chứng cho việc môi trường ven biển của huyện đang bị khai thác theo cách tận diệt.

Khi chúng tôi yêu cầu người lái vỏ bao cặp sát chiếc ghe đang hành nghề đẩy te ở cửa biển Gò Công, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, chủ ghe, anh Phạm Tấn Phước, khóm 3, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỏ ra sợ hãi. Hỏi ra mới biết, anh tưởng lực lượng chức năng đi kiểm tra, rồi sẽ bị phạt vì khai thác trong vùng cấm.

Ngồi nhìn “chiến lợi phẩm” là một mớ cá, tôm chưa đầy 2 kg sau hơn 5-6 giờ vật lộn với biển, anh Phước than: "Ghe nhỏ không dám ra xa bờ, nhưng đẩy gần bờ riết không có tôm tép gì hết. Nếu có xung điện thì kiếm được vài trăm ngàn một ngày, còn không thì lỗ tiền dầu. Cá, tôm bắt được bán không có giá, chỉ khoảng 25.000 đồng/kg vì quá nhỏ. Biết đánh bắt như vầy cá, tôm nào còn, nhưng không làm thì lấy tiền đâu nuôi sống gia đình".

Tháng 10 (âm lịch) hằng năm là thời điểm mà ngư dân vùng ven biển cho là mùa thuận, thế mà tháng 10 năm nay, ngư dân huyện Phú Tân lại ngao ngán cho những chuyến biển. Ông Mười Thống (Huỳnh Văn Thống, khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân), nói: “Thông thường, 5 giờ sáng ra biển đến 5 giờ chiều mới vô. Hôm nay, 5 giờ ra, chưa tới 10 giờ phải vô, vì đánh bắt không có gì, chạy chỉ tốn tiền dầu”.

Ông Mười Thống hồi tưởng, cách đây 25 năm, ông rời Bạc Liêu về đây lập nghiệp. Lúc ấy cá, tôm ở vùng này nhiều vô kể, chỉ 1-2 mẻ lưới là đầy ắp ghe tàu. “Bây giờ sản lượng tôm, cá giảm đi rất nhiều, mặc dù ngư dân đã tìm mọi cách để bắt cho được tôm, cá như thu nhỏ mắt lưới, có người còn dùng cả xung điện, vậy mà còn không đủ sống. Do sản lượng giảm nên hiện nay đánh bắt bằng cách xung điện diễn ra phổ biến. Đáng lo nhất là các tàu có công suất lớn từ nơi khác đến đánh bắt bằng xung điện trong vùng 6 hải lý ngày càng nhiều, làm cho ngư trường vùng này ngày càng cạn kiệt tôm cá, an ninh bất ổn. Đánh bắt theo kiểu tận diệt như hiện nay thì ngư dân vùng này còn khổ dài dài”, ông Mười Thống dự báo.

Khát vọng

Khi biển không còn hào phóng, nghề cha truyền con nối không lo được miếng cơm, manh áo gia đình, ngư dân Phú Tân lại khao khát vươn khơi tìm ngư trường mới, hay chuyển đổi một nghề mới để có đủ khả năng nuôi sống gia đình. Ông Tư Tâm (Nguyễn Văn Út, ấp Cái Nước, xã Phú Tân), đánh bắt tại cửa Mỹ Bình hơn chục năm, ao ước: "Hơn chục năm cật lực với sóng biển bằng chiếc ghe 40 CV, gia đình tích cóp được vài trăm triệu đồng. Thời gian gần đây, ngư trường gần bờ không còn nhiều tôm, cá, muốn nâng cấp ghe lên vài trăm mã lực để vươn khơi, mới mong phát triển được kinh tế gia đình. Nhưng muốn sở hữu được chiếc ghe có công suất lớn trong tay phải có từ trên 500 triệu đồng. Xem lại khả năng tài chính của gia đình thì còn thiếu khoảng 200 triệu đồng. Số tiền này ngoài khả năng của gia đình nên nếu được Nhà nước hỗ trợ cho vay sẽ có điều kiện đóng ghe tàu mới vươn khơi, đó là ao ước từ lâu nhưng không biết bao giờ thành hiện thực".

Hơn chục năm làm nghề lú huế, ông Nguyễn Văn Út, ấp Cái Nước, xã Phú Tân, huyện Phú Tân khao khát vươn khơi, tìm ngư trường mới.  Ảnh: VI HOÀ

Với 39 tuổi đời, có hơn mười mấy năm xuôi ngược trên sóng biển, vậy mà gia đình anh Nguyễn Văn Tuấn, ấp Công Nghiệp, xã Tân Hải, huyện Phú Tân không thoát khỏi vòng túng thiếu. Anh Tuấn tâm sự: "Ghe nhỏ không thể ra xa đánh bắt được, mà đánh bắt gần bờ thì đâu có bao nhiêu, trúng lắm ngày kiếm được 500.000-600.000 đồng, nhiều hôm lỗ tiền dầu. Nghề đánh bắt ven biển này bạc lắm, muốn lên bờ kiếm thuê mướn một miếng vuông, hay làm một nghề gì khác ổn định hơn, nhưng ngặt nỗi không có vốn, vì hồi đó giờ làm ngày nào ăn ngày ấy".

Trong khi khai thác ngày càng gặp khó khăn, Nghị định số 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thuỷ sản của Chính phủ như một chiếc phao cứu sinh cho ngư dân. Nhưng thực tế, ngư dân khai thác ven biển bằng xuồng ghe công suất nhỏ khó với được chiếc "phao" cứu sinh này. Ông Nguyễn Văn Phĩnh, khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm, 1 trong 4 trường hợp được tiếp cận vốn vay để đóng mới tàu, cho biết: "Theo quy định đóng mới tàu vỏ thép phải có vốn đối ứng rất lớn, không dưới 1 tỷ đồng. Chính điều kiện vốn đối ứng lớn nên huyện này không có bao nhiêu người đáp ứng đủ điều kiện. Như vậy, giấc mơ vươn khơi, chuyển đổi nghề của những chủ phương tiện loại nhỏ khó trở thành hiện thực".

“Cuộc sống của ngư dân vùng này ngày càng khó khăn hơn, nên nhu cầu chuyển đổi ngành nghề là vấn đề cấp thiết. Trước đây, tôm cá còn nhiều, chồng đi biển, vợ ở nhà phơi khô, vá lưới, nhờ đó cuộc sống tạm ổn. Bây giờ, tôm cá không có, chồng không ra biển, vợ cũng không có việc làm nên cuộc sống lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Thời gian qua, chính quyền địa phương có mở các lớp dạy nghề, nhưng những lớp này không gắn với nhu cầu tại địa phương nên cũng chẳng giải quyết được vấn đề giải quyết việc làm. Hiện nay, vấn đề chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm cho người dân ven biển là một yêu cầu cấp bách, đòi hỏi các ngành chức năng phải đặc biệt quan tâm”, Bí thư Chi bộ khóm 4, thị trấn Cái Đôi Vàm Lê Minh Nghiệp kiến nghị./.

Bài 2: Đừng để “lỡ duyên” tàu – bến

Phóng sự của Vi Hoà

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.

Hồn đất Cà Mau

Có những buổi sớm ở Cà Mau, đứng giữa đồng lúa, nghe gió đi ngang mặt ruộng, tự nhiên thấy lòng mình lắng xuống. Sương còn đọng trên bông lúa, cánh cò chao nghiêng ngoài mé kinh, xa xa là tiếng xuồng máy nổ giòn trên con kinh nhỏ. Với tôi, càng đi sâu, càng sống lâu với vùng đất địa đầu cực Nam của Tổ quốc, tôi càng nhận ra một điều giản dị mà bền chặt: hồn đất Cà Mau đa phần nằm trong cây lúa.