Thứ ba, 28-7-26 15:59:36
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Những lá thư còn lại

Báo Cà Mau Tự nhận mình có viết thư, biết cảm nhận cái nghĩa, cái tình qua những bức thư ấy, một thời là công cụ giao lưu tình cảm gia đình, đồng đội, bạn bè, có khi là cánh én báo hiệu tình yêu nảy nở. Còn vì một tiếc nuối khác, chiến tranh đã kết thúc 50 năm, sứ mệnh của những lá thư đó cũng đã chấm dứt vai trò cầu nối của mình, những lá thư còn được giữ lại như một kỷ vật quý báu, nếu được xếp ở một góc nhỏ trong bảo tàng, chỉ những chữ đề “Con gái thương yêu của mẹ"; "Anh Chín kính mến"; "Em thân yêu...” người xem dễ chạm vào xúc động, bâng khuâng.

Thường những lá thư có lượng chữ rất ít, phần lớn là một trang giấy ca rô khổ 10x13, nửa tờ pô-luya, có khi chỉ là một miếng giấy rất nhỏ khổ 5x7cm. Những bức thư dài, tỉ mỉ bao giờ cũng dành cho mẹ gửi con hoặc ngược lại. Phong bì thư thì dùng mảnh giấy còn mặt trắng, cắt dán cẩn thận, có phong bì chỉ 4x6cm, bên ngoài còn ghi “đã kiểm duyệt”. Ở Cà Mau, thời này không có hướng dẫn hòm thư, chỉ theo địa chỉ cơ quan, đơn vị theo bí danh, bí số như: Tỉnh đội là S15, Ban Dân y là S10, cơ quan Giao liên là Hai Hoả, Ban Tuyên huấn là Sáu Huấn, huyện Trần Văn Thời là Mười Tế, Thới Bình là Mười Cư... hầu hết thư không gửi theo đường giao liên mà tận dụng thư qua tay, tức khi biết có ai đi công tác đến nơi mình cần gửi thì nhờ anh ấy, chị ấy chuyển giùm, cho nên có rất nhiều lá thư viết vội, chỉ hơn trăm từ, chữ nghiêng ngả; có khi thư viết trên mảnh giấy rất nhỏ do không có giấy lớn hoặc cố ý tạo ra cảm giác lạ, nhớ lâu.

Ảnh: THU THẢO

Có trường hợp hy hữu, như thư của liệt sĩ Hai Phương từ chiến trường Lộc Ninh đề ngày 25/5/1973 gửi cho con là Mạc Ngọc Minh đang công tác ở Ban Dân y Tây Nam Bộ, đến năm 1999, tức sau 26 năm chị Ngọc Minh mới nhận được.

Dưới đây là đoạn mở đầu trong bức thư đó:

“Ngọc Minh,

Con gái yêu quý của mẹ.

 Mấy hôm nay mẹ nhận được thư con, tiện dịp có cậu Tư Ðông về, mẹ viết thư này đến để con mừng.

Con gái yêu của mẹ, dạo này con có khoẻ không, chắc nhớ mẹ nhiều lắm hở con, mẹ biết điều đó.

Kể từ ngày xa con đến bây giờ, chưa lần nào được thư con mà mẹ mừng, phấn khởi, đúng nguyện vọng của mẹ như lần này. Từ lâu, mẹ mong ước con được là đảng viên Cộng sản, là đồng chí của mẹ. Cầm thư con, mẹ sung sướng mà nước mắt quanh mi, mẹ yêu quý con vô hạn, vào Ðảng ở tuổi 19 là sớm, là đảng viên trẻ, phải trải qua thử thách, tu dưỡng, rèn luyện không phải giản đơn, mẹ vui lòng và rất tự hào là có đứa con gái xứng đáng.

Lẽ ra, kèm theo thư này, mẹ gửi quà về đứa con gái cưng yêu của mẹ để làm kỷ niệm ngày con trưởng thành, nhưng bất ngờ chưa chuẩn bị kịp. Theo đây, mẹ gửi về con tất cả tình thương yêu, tất cả niềm hân hoan + lòng tin của đứa con yêu quý duy nhất của mẹ...”.

Ðang là Trung tá, Giám đốc Khách sạn Tân Sơn Nhất - Quân khu 7 trưởng thành, cứng cáp, nhưng khi nhận được lá thư, chị Ngọc Minh không thể, không dám đọc ngay mà chờ đến khi về nhà.

Xin nói thêm, chị Hai Phương có chồng tập kết ra Bắc, hai người chỉ có đứa con duy nhất là Mạc Ngọc Minh, năm 1960-1962 là cán bộ cơ yếu của Văn phòng Tỉnh uỷ Cà Mau, được điều về Khu Tây Nam Bộ, sau đó về Bộ Chỉ huy Quân sự R, những năm 1972-1973 chị được biệt phái làm Thị đội phó Thị đội Lộc Ninh, hy sinh ngày 7/11/1973, lúc đang che chở cho 3 đứa cháu nhỏ dưới làn bom của địch. Lúc này, Ngọc Minh đang công tác ở  Ban Dân y Tây Nam Bộ. Thấy hoàn cảnh của hai mẹ con chị, lãnh đạo Ban Dân y đã đồng ý cho Ngọc Minh chuyển công tác để được gần mẹ.

Ngọc Minh kể trong bài viết “Mẹ tôi” đăng trong tập Triệu ngày khắc khoải:

“Ròng rã 2 tháng liền, tôi cũng đến được Lộc Ninh. Tìm đến Thị đội nơi mẹ tôi công tác lúc chiều muộn, vào cơ quan nhìn chung quanh tìm mẹ mà không thấy, tôi bước đến chỗ có người ngồi sau chiếc bàn.

- Chú ơi, cho cháu hỏi cô Hai Phương.

- Chị Hai Phương công tác ở đây, nhưng...

(Tôi kịp nghĩ: nhưng vừa mới đi ra ngoài, nhưng đã về đơn vị...)

- Nhưng chị đã hy sinh rồi!

- Chú vừa nói gì, chú ơi?

- Chị Hai Phương công tác ở đây, nhưng đã hy sinh nửa tháng trước. Mà cháu là ai?

- Dạ, cháu là con.

Cơn sốt rét rừng ập xuống khi nỗi đau mất mẹ đang ngấm vào từng tế bào, khiến tôi ngã quỵ. Khi xuất viện, tôi được đón về cứ, được nhìn thấy ngôi nhà nhỏ xinh xinh còn thơm mùi lá mới mà mẹ vừa dựng để chuẩn bị đón con gái, mẹ gọi là “Ngôi nhà hạnh phúc”. Không chịu được nổi, tôi xin được đến ở gần bên mộ mẹ...”.

Thế đó, người gửi và người nhận thư sau 26 năm đã góp vào triệu ngày khắc khoải, triệu vết thương không được xếp hạng, mấy ngàn ngày mẹ chờ con, con trông mẹ không ai hoá đá, chỉ có người thành bất tử.

Trước đó, ngày 28/6/1973, chị Ngọc Minh cũng đã có thư cho mẹ:

“Mẹ ơi!

Con đã nhận được thư mẹ buổi chiều của một ngày đầu tháng 6. Lá thư ấy đi gần 2 năm mới tới tay con.

Ðược thư mẹ giữa lúc tâm tư con bị giày vò bởi một nỗi băn khoăn vô bờ bến. Nỗi băn khoăn ấy là tin mẹ đã hy sinh. Mẹ ơi, mẹ có thể hiểu hết tâm trạng của con lúc bấy giờ không, cho đến hôm nay con vẫn chưa biết sự thật thế nào, nhưng vẫn viết thư gửi mẹ, gửi trọn lòng kính yêu và nỗi nhớ mong vô bờ bến của con đến mẹ. Tuy là tin chưa rõ ràng, và con cũng chưa tin đó là sự thật, nhưng mẹ ơi, làm sao con khỏi băn khoăn, lo lắng. Con vẫn biết đó là lẽ tất nhiên và con đã từng chứng kiến cái cảnh đau thương này đến với bạn con, song con chưa lường được nỗi đau đớn của nó đến mức nào. Con đã hiểu được một phần cái tàn nhẫn của nỗi đau, mất mát đó, chỉ một phần thôi vì con vẫn hy vọng là mẹ vẫn còn mãi mãi. Khi đọc thư mẹ con vẫn nghe như đúng là tiếng nói của mẹ ở đâu đây gần lắm, không phải là từ năm 1971 và ở tận miền Ðông xa xôi. Trong thư con báo với mẹ là con đã chuẩn bị đầy đủ tinh thần, chịu đựng xa mẹ thêm thời gian nữa thì mẹ lại bổ sung “Trong chiến tranh ác liệt này con ước lượng là có thể mẹ hy sinh nên con đã chuẩn bị đầy đủ tinh thần để vượt qua cảnh đau thương đó. Nếu mẹ có hy sinh thì cũng là vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng, con nên tự hào”.

***

Trong cái túi nhái đựng “bảo vật” của anh Lê Minh Hiền, nguyên Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cà Mau còn cất giữ, tôi đếm có ngót 30 lá thư của bạn bè, anh em gửi cho anh, có cái được bọc trong bọc ni lông rất cẩn thận, có lá chủ nhân của nó đã hy sinh, có lá mẻ sâu vào cạnh, có lá hết trang giấy ca rô, từ trong sổ tay xé ra, có cái nhỏ đến chạnh lòng.

Lá thư của cố Nhà văn Nguyễn Thanh, Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Cà Mau trên mảnh giấy pô-luya đã mềm nhũn.

“Hiền,

Thư này đến tay Hiền thì mình đã rời khỏi đây rồi. Ði xa, lại phải sang sông. Mình tìm Hiền mấy bận để hoàn lại số giấy ảnh và để có ít chuyện trước khi chia tay. Ðành vậy, nên, xa Hiền tâm tư mình thấy hơi nặng, không nói ra, chắc Hiền cũng hiểu.

... Với chúng ta, tình nghĩa mình muốn tìm thấy phía sau của cuộc đời, chắc Hiền cũng vậy. Như Hiền đã hiểu, có lắm trường hợp chung chạ với nhau hằng năm, khi xa nhau rồi cũng không có gì vướng bận. Trái lại, có những sự gặp gỡ ngẫu nhiên, làm cho mình xao xuyến lòng! Với chúng ta, trong trường hợp như vậy.

Nhớ Hiền, nhớ những lần gặp gỡ. Thế thôi!

9/3/1972 dương lịch”.

Thư khác, không đầy trăm từ trên mảnh giấy khổ 6x9 đề ngày 10/1/1972, Nguyễn Thanh viết:

“Mình định về Mười Tế, nhưng lại phải đi dài hạn ở khu Bình Hưng, thế là mình lâu gặp Hiền lắm.

Mình vẫn khoẻ, còn công tác cũ, vui cũng nhiều, mà buồn cũng không ít. Mỗi bức thư của Hiền lúc này có giá trị tinh thần đối với mình. Như vậy, chắc Hiền cũng hiểu tình mình đối với Hiền.

Muốn viết cho Hiền nhiều nữa, nhưng bây giờ viết thư dài thì không hợp với thời gian chiến đấu nóng bỏng.

Trông thư Hiền".

         ***

Tôi và Nguyễn Lệ Nga cùng công tác chung ở cơ quan Tỉnh đoàn, nhưng lắm khi mới gặp nhau bởi mỗi người một địa bàn. Năm 1970, trên đường từ Huyện đoàn Giá Rai về, tôi nhận được thư của Lệ Nga gửi hờ ở Huyện đoàn Tư Kháng (Ðầm Dơi bây giờ):

“Ba Viễn (*) rừng chiều, ngày 2/4/1971

Anh Chín đáng kính của em,

Xa mẹ, có anh, em thấy có gì thiêng liêng ấm áp lắm. Mỗi lần gặp anh thì lòng rộ lên một niềm vui khó tả. Em muốn trút hết cả nỗi mừng với anh và bao nỗi lòng của em, nhưng chắc anh cũng hiểu được tính thuỳ mị, kín đáo của đứa em gái anh, những giờ phút gặp gỡ ấy em thấy quý vô cùng, như những giờ phút em ngồi bên mẹ vậy.

Em vô cùng thấm thía bài thơ “Cho em” với những lời dạy dỗ, dặn dò mỗi khi gặp em. Hứa với anh, em sẽ nỗ lực bản thân trong công tác, vượt qua mọi khó khăn và vất vả, nghịch cảnh khách quan, xứng đáng với lòng mong ước và tin tưởng của anh đối với em, mà hôm nào anh đã nói với em về lòng tin ấy.

Em gái,

Bé”

Năm 1970, trong cuộc họp của Tỉnh đoàn với các huyện phía Ðông sông Bảy Háp, Lệ Nga đã ném cho tôi mảnh giấy được vò tròn bằng đầu ngón tay. Tôi hồi hộp mở ra đọc: “Anh có quần áo rách đưa em tranh thủ vá, mai chia tay, biết có gặp được không?”. Và đêm ấy, bên ngọn đèn dầu và bếp ung toả khói, Lệ Nga đã vá cho tôi chiếc áo rách tới hai chỗ. Cảm động trước tình cảm của em, ngày 11/3/1970, tôi đã gửi cho Lệ Nga bức thư bằng mấy đoạn văn vần:

“Em ơi chiếc áo vá

Anh đã có từ lâu

Sao hôm nay thấy lạ

Em có biết vì đâu?

Từng đường kim mối chỉ

Theo anh ra tuyến đầu

Ấm lòng cơn gió lạ

Rải bóng mặt sông sau

Muốn giữ hoài kỷ niệm

Giữ bàn tay ân tình

Giữ lòng trong, chí sắt

Ðêm Ba Viễn lung linh...”.

Còn nữa, còn ngót hàng chục lá thư tôi có trong tay và đã đọc không thể đưa vào hết bài viết này. Theo thời gian, những lá thư thời chiến còn lại không nhiều, mỗi ngày qua nó càng trở thành kỷ vật hiếm, mỗi ngày qua nó càng cận kề với sự chấm hết. Mỗi khi đọc lại ta thấy sáng ngời cái tình, cái nghĩa, sự chân thật, thấm đậm tình đồng chí, anh em, ngọt ngào, trong sáng, lãng mạn và cả ý chí vươn tới trong mọi tình huống. Vô tư, không mải mai đến chức tước, giàu nghèo, những lá thư đó không tránh khỏi những khiếm khuyết về ngôn ngữ, câu từ, nhưng trên tất cả, chúng ta đã sống một thời thật lòng như vậy đó.

Thay lời kết bài viết này, tôi xin ghi lại lời lưu bút của anh Ðằng Phương trong chiến tranh công tác ở Thị đoàn Cà Mau, khi hoà bình có lúc công tác ở Mặt trận Tổ quốc tỉnh: “Dấu xưa ghi lại bao dòng nhớ, nét bút Ðằng Phương kỷ niệm đời”.

(*) Ba Viễn là bí danh xã Tân Tiến, Ðầm Dơi

 

Nguyễn Thái Thuận

 

Vẹn trọn đạo lý, vững bước tương lai

Những ngày tháng Bảy, mảnh đất địa đầu cực Nam Tổ quốc như lắng lại trong không khí thiêng liêng của dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ; dòng chảy tri ân đang cuộn trào trên khắp quê hương Cà Mau, kết nối lịch sử hào hùng với khát vọng vươn mình của hôm nay.

Sức sống mới trên Đôn Bơ - Cựa Gà

Vùng quê cách mạng Đôn Bơ - Cựa Gà (ấp Thạnh Hưng 2, xã Vĩnh Mỹ) hôm nay đổi thay, khởi sắc từng ngày. Những dấu tích chiến tranh được gìn giữ, giáo dục truyến thống; những chính sách đền ơn đáp nghĩa được triển khai thiết thực, góp phần để vùng đất từng chịu nhiều mất mát trong chiến tranh vươn lên trong nhịp sống mới.

Nối dài mạch nguồn tri ân

Tháng Bảy về, khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cà Mau lại rộn ràng các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Mỗi món quà trao đi, mỗi lời thăm hỏi chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối mạch nguồn tri ân sâu sắc công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh cho Tổ quốc.

Xây tượng nữ anh hùng Hồ Thị Kỷ: Bông sen lửa sáng mãi trên đất Cà Mau

Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Hồ Thị Kỷ (1949-1970) sinh ra tại ấp Cây Khô, xã Tân Lợi (nay là Xã Hồ Thị Kỷ). Hoạt động trong Ðội Biệt động thị xã Cà Mau, chị nổi tiếng với những chiến công lẫy lừng và sự hy sinh quả cảm ở tuổi 21, trở thành biểu tượng rực rỡ cho tinh thần cách mạng quật khởi của tuổi trẻ đất mũi.

Cha, con cùng ra trận

Kết thúc cuộc trường chinh 30 năm đánh giặc, ở mảnh đất có hình tượng như mũi con tàu, việc hai cha con cùng ra trận có lẽ không nhiều. Chính uỷ Trung đoàn 1, Quân khu 9, Vưu Hoà Thạnh (Tư Bằng) và con trai Vưu Minh Chiến là điển hình trong cuộc chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước đã để lại cho gia đình, đồng đội sự tiếc thương vô hạn.

Cà Mau truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Huân chương Kháng chiến

Chiều 24/7, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và truy tặng Huân chương Kháng chiến cho các liệt sĩ có nhiều cống hiến trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026).

Viết tiếp trang sử quê hương từ hành trình tuổi trẻ

Những ngày Tháng 7, tại các địa chỉ đỏ, nghĩa trang liệt sĩ và gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau luôn rộn ràng màu áo xanh tình nguyện. Với tuổi trẻ hôm nay, hoạt động tri ân không chỉ dừng ở những buổi dâng hương, dọn vệ sinh hay tặng quà, mà còn được cụ thể hoá bằng nhiều việc làm thiết thực như tổ chức "Bữa cơm tri ân", chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ... Qua đó góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương.

Người còn lại

Ðứng trước công trình Bia tội ác Mỹ - nguỵ ở Bàu Hang - Tân Tiến, người cựu chiến binh lão thành tuổi 83 Nguyễn Văn Tòng (sinh năm 1943, quê ấp Tân Ðức A, xã Tân Ðức, huyện Ðầm Dơi cũ; nay là xã Tân Thuận) không thể nào quên ký ức cách đây 67 năm - ngày giặc gieo rắc tội ác kinh hoàng ngay tại nơi này.

Gửi tuổi xanh cho quê hương

Có những mùa xuân của tuổi trẻ không được ghi dấu bằng mối tình đầu thơ mộng hay những ước mơ trong trẻo, dự định về tương lai rộng mở, mà bằng tiếng súng, cuộc hành quân xuyên đêm, những lần đối mặt với ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày đất nước thống nhất, nhưng câu chuyện về những nữ pháo binh và nữ biệt động của Cà Mau vẫn luôn là biểu tượng đẹp về một thế hệ đã gửi trọn tuổi thanh xuân cho quê hương, đất nước.

Hướng về Ngày Thương binh - Liệt sĩ bằng cả tấm lòng

Ngày 18/7, cán bộ, đoàn viên thanh niên, lực lượng dân quân tự vệ xã Châu Thới phối hợp với cán bộ, nhân viên Viettel khu vực Vĩnh Lợi ra quân tổng vệ sinh, chỉnh trang Nghĩa trang liệt sĩ xã.